Vùng nào ở nước ta thuận lợi nhất để phát triển tổng hợp kinh tế biển

Động cơ tăng trưởng của các vùng ven biển

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 10 năm qua (2008-2017), tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) vùng ven biển tăng trưởng 7,5% / năm, cao hơn mức tăng chung. Tỷ lệ cả nước (cả nước tăng 6% / năm). Năm 2017, quy hoạch tổng thể phát triển vùng ven biển chiếm tỷ trọng 60,5% GDP của cả nước, GDP bình quân đầu người là 64,9 triệu đồng, cao hơn mức bình quân chung của cả nước là 53,5 triệu đồng. Trong đó, một số vùng có GDP bình quân đầu người cao như Bà Rịa-Vũng Tàu (hơn 225 triệu đồng), Quảng Ninh (hơn 90 triệu đồng), Đà Nẵng (hơn 225 triệu đồng). ). trong tổng số 70 triệu đồng Việt Nam).

Một số ngành kinh tế biển ưu tiên có bước phát triển mạnh mẽ góp phần tăng trưởng kinh tế như: du lịch biển, đảo; khai thác và chế biến hải sản; phát triển các khu kinh tế ven biển; Phát triển hệ thống giao thông vùng ven biển (đường bộ, sân bay, bến cảng, cảng cá …).

Vùng ven biển đang tích cực thu hút đầu tư xây dựng và phát triển nhiều khu, điểm du lịch ven biển mới, hiện đại, thu hút lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế. Có khá nhiều dự án đầu tư vào các khu du lịch biển và hải đảo cao cấp, khu thể thao giải trí ven biển với quy mô vốn từ 500 triệu đến 1 tỷ đô la Mỹ. Dọc theo bờ biển của đất nước, hàng loạt khu du lịch, nghỉ dưỡng hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế (4-5 sao) đã được phát triển ở hầu hết các vùng ven biển. Việc phát triển một số trung tâm du lịch biển mang tầm khu vực như: Vân Đồn, Đà Nẵng, Phan Thiết, Phú Quốc … hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch quốc tế. Du lịch biển, đảo hiện đóng góp khoảng 70% tổng doanh thu hàng năm của ngành du lịch cả nước.

Các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác, đóng mới tàu cá trên biển có tác dụng tích cực. Sản lượng thủy sản hàng năm tăng nhanh và liên tục, từ năm 2006 đến năm 2017 sản lượng tăng từ 1,8 triệu tấn lên 3,2 triệu tấn. Các công ty chế biến thủy sản đã tăng nhanh về số lượng và chất lượng sản phẩm. Đến nay, cả nước có hơn 620 doanh nghiệp chế biến thủy, hải sản quy mô công nghiệp, trong đó có 415 nhà máy chế biến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn thực phẩm (Nhật Bản). Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu …).

Hiện cả nước có 17 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích đất và biển khoảng 845.000 ha. Tính đến hết năm 2017, các khu kinh tế ven biển đã thu hút được hơn 390 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký là 45,5 tỷ đô la Mỹ, vốn đầu tư thực hiện 26,5 tỷ đô la Mỹ và 1.240 dự án, vốn đầu tư thực hiện 323,6 nghìn tỷ đồng. . Một số vùng kinh tế như Nghi Sơn, Vũng Áng, Chu Lai, Dung Quất … đã thu hút được các dự án đầu tư lớn, góp phần quan trọng nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp của cả nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi. Thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác. Năm 2017, các khu kinh tế ven biển đạt tổng doanh thu khoảng 14,3 tỷ đô la Mỹ, xuất khẩu hơn 7,2 tỷ đô la Mỹ, nộp ngân sách khoảng 40.000 tỷ đồng.

Hệ thống cảng biển được xây dựng và phát triển cả về quy mô, số lượng và mật độ ở vùng ven biển. Đến nay, cả nước có 45 cảng biển, trong đó có 3 cảng cửa ngõ quốc tế, cảng hàng hải quốc tế (Hải Phòng, Bà Rịa Vũng Tàu, Phan Phương), 11 cảng đầu mối khu vực, 17 cảng công cộng nội địa, ngoài ra còn có hệ thống các cảng chuyên dụng. cảng khu công nghiệp tập trung, khu kinh tế; Tổng số có 241 cầu cảng, 18 khu neo đậu, chuyển tải, với tổng công suất thiết kế là 534,7 triệu tấn / năm; Có hơn 10 cảng có thể tiếp nhận tàu lớn từ 20 nghìn tấn đến hơn 40 nghìn tấn. Đang xây dựng, cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện (Hải Phòng) có khả năng tiếp nhận tàu container, tàu hàng tổng hợp 50.000 DWT đầy tải và 100.000 DWT hạ tải.

Mức sống và mức sống của dân cư vùng ven biển và hải đảo được cải thiện đáng kể cả về vật chất và tinh thần. Từ năm 2006 – 2016, thu nhập bình quân đầu người / tháng vùng ven biển tăng 4,8 lần; Năm 2016 là 3,035 triệu đồng / người / tháng (bình quân cả nước là 3,049 triệu đồng / người / tháng). Năm 2011-2016, các tỉnh, thành phố ven biển đã giải quyết việc làm cho 4,67 triệu lao động, chiếm 49,73% tổng số việc làm của cả nước.

Những tồn tại và hạn chế trong phát triển kinh tế biển

Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, việc khai thác, sử dụng tài nguyên biển và vùng ven biển nhiều nơi còn lãng phí, kém hiệu quả, nhất là khai thác, sử dụng vùng đất ven biển, vùng nước mặt và vùng biển ven bờ. Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên biển, giữ gìn môi trường sinh thái biển và ven biển còn nhiều hạn chế. Khai thác tiềm năng tài nguyên nước chưa hiệu quả cao, thiếu bền vững, không kiểm soát được hạn mức cấp phép khai thác cho từng vùng biển, dẫn đến nguồn hải sản ven biển dần cạn kiệt. Các hệ sinh thái ven biển (rừng ngập mặn, vùng bãi triều, rạn san hô …) có xu hướng bị suy thoái nghiêm trọng do tác động của các hoạt động kinh tế và xây dựng.

Tình trạng ô nhiễm môi trường nước biển ven biển, cửa sông, ao, vịnh do các hoạt động kinh tế và sinh hoạt (sản xuất công nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy sản, khai thác cảng, nước thải đô thị ven biển, …) còn nhiều nơi chưa được giải quyết. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, hiệu quả còn hạn chế.

Một số lĩnh vực kinh tế xa bờ được ưu tiên đột phá nhưng phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng. Kinh tế cảng vẫn phát triển chậm và kém hiệu quả. Hệ thống cảng biển được đầu tư xây dựng và phát triển rất nhanh về cơ sở hạ tầng, tổng công suất thiết kế các cảng trong cả nước đạt 534,7 triệu tấn / năm. Tuy nhiên, mô hình quản lý cảng chưa được đổi mới, dịch vụ cảng và hậu cần sau cảng phát triển chậm và thiếu đồng bộ, nhiều cảng chưa được khai thác hết. Lượng hàng hóa thông qua các cảng biển lớn (do Trung ương quản lý) hàng năm tăng chậm, giai đoạn 2007-2017 bình quân chỉ đạt 5,4% / năm.

Giao thông vận tải biển có mức độ hiện đại hóa và sức cạnh tranh thấp, đặc biệt là vận tải biển. Đội tàu này chủ yếu gồm các tàu cũ, hoạt động chủ yếu trên các tuyến gần. Cơ cấu đội tàu chưa hợp lý, vừa thừa tàu hàng tổng hợp, hàng rời, vừa thiếu tàu container và tàu chuyên dụng. Khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển tăng từ năm 2007 đến năm 2016 với tốc độ bình quân 3,6% / năm.

Năng lực đóng mới và sửa chữa tàu tăng chậm, cả nước có hơn 120 nhà máy đóng mới và sửa chữa tàu, công suất đóng mới tàu biển khoảng 1.000.000 DWT / năm. Rất ít nhà máy, xí nghiệp nước ngoài có hợp đồng gia công với nước ngoài duy trì hoạt động hiệu quả và có khả năng đóng mới một số tàu hàng, tàu chuyên dụng (tàu container, tàu hàng rời và tàu thủy). Tàu vận tải dầu, tàu cứu hộ …), còn lại chủ yếu là đóng mới, sửa chữa tàu thuyền nhỏ hoạt động ven bờ, doanh thu và hiệu quả thấp.

Việc khai thác, chế biến dầu khí đang gặp khó khăn trong bối cảnh giá dầu thế giới giảm trong thời gian qua, cùng với sản lượng khai thác giảm (do trữ lượng hiện có giảm) và các vấn đề khác. An ninh ở Biển Đông không nên phát triển với lực lượng tương đương với yêu cầu. Tổng sản lượng khai thác dầu giai đoạn 2007-2017 khoảng 167,9 triệu tấn (bình quân hàng năm 15,2 triệu tấn), khai thác khí 101,7 tỷ mét khối (bình quân hàng năm 9,2 tỷ mét khối). Năng lực sản xuất trong lĩnh vực lọc, hóa dầu và chế biến các sản phẩm lọc hóa dầu còn rất hạn chế.

Cơ sở hạ tầng xa bờ còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ sở hạ tầng quy mô, hiện đại đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng của các trung tâm kinh tế biển lớn mạnh. Kết cấu hạ tầng ven biển tương đối được đầu tư phát triển nhưng còn dàn trải, thiếu cơ sở hạ tầng quy mô, hiện đại và các công trình theo tiêu chuẩn quốc tế (cảng biển, trung tâm logistic …) để tạo đột phá mạnh mẽ cho phát triển một số trung tâm kinh tế biển. ở cấp quốc gia và khu vực. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển nhanh một số trung tâm kinh tế biển, khu kinh tế ven biển có sức cạnh tranh cao trong vùng còn chậm, ảnh hưởng đến thu hút đầu tư.

Hệ thống cảng biển được đầu tư xây dựng và mở rộng nhanh chóng nhưng vẫn chưa đồng bộ với việc hiện đại hóa kết cấu hạ tầng giao thông, kết nối thuận lợi giữa cảng với quốc lộ và các trung tâm kinh tế của cả nước.

Mức sống của người dân vùng ven biển đã được cải thiện rất nhiều, tuy nhiên vẫn còn có sự chênh lệch đáng kể giữa các địa phương. Đến năm 2017, cả nước còn 291 xã ven biển và hải đảo thuộc 23/28 huyện, thành phố trực thuộc Trung ương có biển, chiếm 62% tổng số xã biển của cả nước.

Giải mã nguyên nhân tồn tại và hạn chế

PGS.TS Võ Thành Ca, cán bộ Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, những khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế biển ở Việt Nam hiện nay chủ yếu do chủ quan. Nguyên nhân lớn nhất là do thiếu quy hoạch tổng thể sử dụng biển bên cạnh quy hoạch tổng thể sử dụng vùng biển theo quan điểm quản lý tổng hợp. Điều này dẫn đến cạn kiệt nguồn cá và phá hủy các hệ sinh thái biển quan trọng, chẳng hạn như rừng ngập mặn, rạn san hô và thảm thực vật biển. Ý thức của ngư dân còn thấp nên họ đánh bắt cá trái phép, thậm chí hủy diệt ở vùng biển Việt Nam và nước ngoài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhận xét: Hàng chục tỉnh ven biển đua nhau xây dựng cảng biển, có nơi xây dựng gần trăm cảng biển. Tuy nhiên, động lực ‘tiến ra biển’ của phong trào quần chúng này – lan rộng đến mức nó đã trở thành một ‘hội chứng’ – thực sự bị mờ nhạt, được thúc đẩy bởi tư duy quan tâm đến dự án địa phương hơn là các mục tiêu cạnh tranh về phát triển lành mạnh và tầm nhìn xa.

Theo lý giải của một số chuyên gia kinh tế, nguyên nhân quan trọng dẫn đến những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế biển của nước ta là do hệ thống chính sách, pháp luật phát triển kinh tế biển chưa đồng bộ. Chưa tạo ra sức mạnh điều tiết các hoạt động phát triển kinh tế hàng hải. Đặc biệt, nhận thức về phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững của cán bộ, cá nhân chưa cao, khái niệm kinh tế biển xanh hầu như chưa được hiểu và áp dụng một cách thống nhất ở Việt Nam. Nhiều địa phương chỉ chú trọng đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút dự án đầu tư mà chưa thực sự quan tâm đến hiệu quả chung và lâu dài trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển kinh tế. giữ gìn và bảo vệ tài nguyên biển. Tài nguyên và Môi trường. Thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ, hấp dẫn để thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển, trong đó đầu tư vào các ngành kinh tế biển. Chịu rủi ro cao về thời tiết, thiên tai và mất an toàn, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng hàng hải thường có suất đầu tư cao, thu hồi vốn chậm.

Công tác đào tạo, dạy nghề cho nhân viên khai thác hải sản và người làm công tác xa bờ, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ công nghệ trong nhiều ngành kinh tế hàng hải còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu.

Việc truyền tải, ứng dụng phát triển khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển còn yếu, chủ yếu tập trung ở một số lĩnh vực như nuôi trồng, hải sản, nghiên cứu, điều tra cơ bản tài nguyên biển, tài nguyên biển và môi trường biển. Chưa có chương trình dài hạn để phát triển và chuyển giao ứng dụng công nghệ biển cho các ngành kinh tế biển ưu tiên.

Nguồn lực tài chính chưa đảm bảo để đầu tư kết cấu hạ tầng vùng biển, thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội vùng biển của địa phương. Ngoài ra, còn có tâm lý trông chờ vào nguồn vốn của Nhà nước để đầu tư thực hiện nhiệm vụ, một số ngành, địa phương thiếu tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo, đổi mới cơ chế, chính sách quản lý để nâng cao hiệu quả. Huy động và sử dụng các nguồn lực để thực hiện chiến lược biển.

Thấy rõ những thành tựu đạt được và ghi nhận những hạn chế trong phát triển kinh tế biển trong thời gian qua giúp chúng ta có những giải pháp đúng đắn, kịp thời để tận dụng tốt hơn những lợi thế của biển đất liền.

ĐỖ PHÚ TH – KHU VỰC PHƯƠNG

(có nhiều)

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.