Vai tro cua nguyen ai quoc doi voi cach mang. Webp

Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam 1911 1925

Vai tro cua nguyen ai quoc doi voi cach mang. Webp

Số nhà 5, đường Châu Văn Lim, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh – Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở trước khi ra đi tìm đường cứu nước. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh)

(Thanhuytphcm.vn) – Cuối thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh cứu nước, giải phóng dân tộc ở Việt Nam gặp khủng hoảng, bế tắc cả về lý luận, đường lối và phương pháp đấu tranh. Làm thế nào để đánh đuổi thực dân xâm lược, khôi phục độc lập quê hương, tự do cho dân tộc? Câu hỏi này được đặt ra liên tục và là trách nhiệm to lớn của các thế hệ người Việt Nam yêu nước.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu Đô đốc Latus Trivin, từ cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lên đường về nước, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước, với hành trang ban đầu là lòng nhiệt thành cứu nước. và trí thông minh. Trí tuệ thiên tài, nhãn quan chính trị nhạy bén và những giá trị truyền thống dân tộc được kế thừa từ dân tộc Việt Nam. Ba mươi năm sau, ngày 28/1/1941 (tức mùng 2 Tết Tấn Tài), Quốc trưởng Nguyễn Ái Quốc đã vượt cột mốc 108 (nay là 675 điểm) của biên giới Việt – Trung đến Bắc Pò, đô thị Trung Quốc. Hà, Huyện Hà Quảng, Tỉnh Cao Bằng.

Trên chặng đường dài ấy, Nguyễn Tất Thành đã vượt qua ba đại dương, bốn châu và gần ba mươi nước để tìm đường cứu nước nhằm đáp ứng đồng thời yêu cầu: cứu nước, cứu dân. Cuối cùng, người thanh niên yêu nước ấy đã tìm thấy và đi theo con đường cách mạng vô sản là chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách với nhiều sự kiện quan trọng để lại dấu ấn của Người cũng là những dấu ấn to lớn của cách mạng Việt Nam.

Vai tro cua nguyen ai quoc doi voi cach mang viet nam 1911 1925

Đồng chí Nguyễn Tôi Cốc năm 1919 tại Paris. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh)

Tàu rời bến ngày 5 tháng 6 năm 1911, đến Mắc Xay ngày 6 tháng 7 năm 1911 theo đường Nguyễn Tất Thành qua các cảng Côlômbô (nay là Xri Lanca), Buxit (Ai Cập), rồi đến một số nước ở châu Âu. Châu Phi, Châu Mỹ. Giữa năm 1913, ông sang Anh, tham gia nhiều hoạt động, cuối năm 1917 trở về Pháp.

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc ngày 18/6/1919, đại diện các nước đế quốc tham chiến tổ chức hội nghị ở Versailles (18-21 / 6/1919) để giải quyết các vấn đề chiến tranh. Lúc bấy giờ, cũng như bao người, nhiều dân tộc đã bị “mê hoặc bởi những bản tuyên ngôn rộng rãi về quyền tự quyết của các dân tộc” do Tổng thống Hoa Kỳ, nhân danh Liên đoàn Quốc gia Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành, cùng với Phan Châu. Trịnh, Văn Văn Trọng lập bản yêu sách của nhân dân Tôi ngủ yên (bản yêu sách tám điểm) và gửi đến Hội nghị Versailles. Bản yêu sách 8 điểm, trong đó nổi bật là “yêu cầu chính phủ các nước họp công nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của nhân dân Việt Nam.” Bản yêu sách 8 điểm do Nguyễn Ái Quốc ký, mặc dù không được chấp nhận, nhưng đã coi bản yêu sách của mình là điểm xuất phát của một cuộc đấu tranh cách mạng và là bàn đạp này đã làm chấn động nước Pháp và thế giới. tình dục. Tiếp theo, Nguyễn Ái Quốc chuyển thể câu tám điểm thành câu thơ lục bát và bảy cánh với tên gọi Việt Nam yêu cầu ca.

Vai tro cua nguyen ai quoc doi voi cach mang viet nam 1911 1925

Thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp của đồng chí Nguyễn Tôi Cốc. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh)

Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Tôi Cốc đọc chuyên luận của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội Đảng xã hội Pháp. Tại đây, Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba và đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Sau khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động kiếm sống và hoạt động trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa, phong trào lao động, học tập, nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, học tập kinh nghiệm của các cuộc cách mạng trên thế giới. . Đặc biệt, khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Người nhận thấy “chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga mới thành công” vì nó mang lại lợi ích cho đông đảo quần chúng công nhân và nông dân. Nguyên nhân chính dẫn đến thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Bôn-sê-vích do Lê-nin đứng đầu.

Từ năm 1921 đến tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc tham gia nhiều hoạt động: thành lập Liên đoàn các chủng tộc thuộc địa, tham dự Đại hội lần thứ nhất và lần thứ hai của Đảng Cộng sản Pháp, ở câu lạc bộ. Báo Nhân dân nghèo. Ngày 13 tháng 6 năm 1923, ông rời Pháp đến Đức và Sankt-Peterburg (Liên Xô) vào ngày 30 tháng 6 năm 1923.

Vai tro cua nguyen ai quoc doi voi cach mang viet nam 1911 1925

Thẻ đại biểu của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi tham vấn Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản năm 1924. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh)

Từ tháng 7-1923 đến tháng 10-1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản thế giới, bổ sung và phát triển lý luận về cách mạng thuộc địa. Hoạt động trong Tổ chức Nông dân Quốc tế; Anh tham dự Đại hội Quốc tế Công hội đỏ lần thứ hai, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Ông tiếp tục viết nhiều sách tuyên truyền cách mạng, hoàn thành công việc cai trị hệ thống thuộc địa của Pháp; Học Đại học Phương Đông. Đồng chí tham gia Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được cử làm cán bộ Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản.

Tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô trở về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, tháng 6-1925, Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trực tiếp mở lớp đào tạo cán bộ, xuất bản tờ báo Thanh niên (21/6/1925) – tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Nam tiến để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, chuẩn bị cho ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc được sưu tầm và in trong Đường Khách Mạnh, xuất bản năm 1927; Được xuất khẩu với số lượng lớn tại Việt Nam. Nội dung cuốn sách nhấn mạnh: Cách mạng trước hết cần có đảng cách mạng. Chỉ có cách mạng thành công mới có lợi cho đảng. Giống như một người lái tàu, anh ta có một con thuyền đứng yên để chạy. Vì vậy, cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi, trước hết phải xây dựng một đảng cách mạng vững mạnh. Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm cốt, trong đảng ai cũng phải học, ai cũng phải theo. Nguyễn Ái Quốc cũng phát hiện ra rằng chủ nghĩa yêu nước và lòng yêu nước là động lực to lớn của phong trào giải phóng dân tộc và Đảng Cộng sản là đội tiên phong cách mạng của giai cấp và của dân tộc.

Vai tro cua nguyen ai quoc doi voi cach mang viet nam 1911 1925

Trường Đại học Quốc tế Lenin số 25, phố Vorokskova, Matxcova – nơi đồng chí Nguyễn Ái Quốc học từ năm 1934 đến năm 1936. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh)

Mùa hè năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Trung Quốc sang Liên Xô, rồi sang Đức (tháng 11-1927), rồi bí mật sang Pháp, sang Bỉ dự Đại hội đồng Liên đoàn chống đế quốc (tháng 12-1927). Sau đó, ông trở lại Đức, Thụy Sĩ, Ý. Tháng 7-1928, Nguyễn Ái Quốc sang Xiêm (Thái Lan), cuối năm 1929 trở lại Trung Quốc.

Từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930 tại Qu Long (Hương Khang, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Đại hội hợp nhất các tổ chức cộng sản, ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được coi là Đại hội thành lập Đảng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin, với phong trào công nhân và phong trào dân tộc ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sự trưởng thành về ý thức chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, chấm dứt thời kỳ bế tắc về đường lối và khủng hoảng về đường lối lãnh đạo của cách mạng Việt Nam.

Từ năm 1930 đến năm 1941, mặc dù hoạt động ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng cả nước. Trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức xây dựng đường dây liên lạc quốc tế, nhất là với các nước Đông Nam Á nhằm vận động sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân và các tổ chức trên thế giới. Sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tháng 6 năm 1931, ông bị chính quyền Anh bắt tại Hồng Kông. Cuối năm 1932, ông được trả tự do. Trong những năm 1934-1938, Nguyễn Ái Quốc rời Thượng Hải đến Vladivostok (Liên Xô) học tại Trường Quốc tế Lê-nin, sau đó làm việc tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc (tên thường gọi là PCLin) được Bộ Tư lệnh Hải ngoại và Trung ương Đảng cử làm đại biểu của Đảng tại Quốc tế Cộng sản và cử đi dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản. Năm 1935. Tháng 10 năm 1938, Người rời Liên Xô về Diên An (Trung Quốc) làm việc tại Đại bản doanh Binh đoàn 8, sau đó bắt liên lạc với tổ chức đảng, chuẩn bị về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Ngày 28/1/1941, sau hơn 30 năm xa quê hương, Nguyễn Ái Quốc đã trở về quê hương (tại Cột mốc 108, xã Trung Hà, Hà Quảng, Cao Pang).

Vai tro cua nguyen ai quoc doi voi cach mang viet nam 1911 1925

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) ngày 2 tháng 9 năm 1945. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh)

Chặng đường 30 năm Nguyễn Ái Quốc vừa tìm đường cứu nước, vừa kiên cường chiến đấu với lòng dũng cảm, trí tuệ kiên định để bảo vệ con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở Việt Nam. Thành tựu to lớn của chặng đường 30 năm đó được thể hiện ở chỗ: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời rõ ràng, thuyết phục những câu hỏi lớn nhất của nhân dân Việt Nam và cách mạng Việt Nam mà trước đây chưa ai trả lời được.

Năm 1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh và sang Trung Quốc với tư cách là đại biểu của phong trào Việt Minh và đại diện của chi nhánh Việt Nam của Liên đoàn chống bạo động quốc tế. Cùng năm, Nguyễn Ái Quốc bị bắt trên đường Tốc Vinh vì giấy tờ tùy thân đã hết hạn sử dụng.

Ngày 9/8/1944, Hồ Chí Minh được trả tự do, Liu Chao ra đi và trở về hoạt động tại Pắk Pó, Cao Bằng.

Tháng 12 năm 1944, Hồ Chí Minh gửi thư cho Võ Nguyên Giáp. Đây là chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Ngày 18/8/1945, Hồ Chí Minh viết thư kêu gọi toàn quốc và đồng bào khởi nghĩa.

Sau khi Tổng khởi nghĩa được đồng loạt phát động ở khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước, ngày 19/8/1945, Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội; 23 tháng 8 tại Huế; Ngày 25 tháng 8 tại Sài Gòn. Chỉ trong một thời gian ngắn, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đã thành công, chính quyền cách mạng về tay nhân dân.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra mắt quốc dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuyên bố nền độc lập của dân tộc Việt Nam trước đồng bào cả nước và thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt trọng đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Nhân dân ta đã từ hạng nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ số phận của mình. Là nơi hội tụ ý chí độc lập, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; Là thắng lợi vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được đảng ta vận dụng sáng tạo “chọn tình thế, chọn thời cơ”, đưa ra những quyết định đúng đắn, sáng tạo trên các cấp độ chiến tranh.

Khoa Lý luận Chính trị – Lịch sử Đảng

Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.

Tin tức liên quan

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.