Tran tay ban nha va y da san nao

Trận tây ban nha và ý đá sân nào

Tran tay ban nha va y da san nao

Các cầu thủ Tây Ban Nha ăn mừng chức vô địch Euro 2008 tại Madrid.

Vòng loại Euro 2008, Tây Ban Nha rơi vào bảng F, đứng đầu bảng với 28 trên 36 điểm có thể giành được. Tại lễ bốc thăm cho vòng chung kết,đội rơi vòng bảng D, có trận đấu mở màn với Nga, chiến thắng thuyết phục với tỉ số 4–1. Trận đấu thứ 2 với Thụy Điển, Tây Ban Nha sớm mở tỉ số ở phút thứ 15 nhờ công của Fernando Torres, bị thủng lưới sớm, Thụy Điển dồn lên tấn công. Phút thứ 34, Zlatan Ibrahimovic san bằng tỉ số 1–1 với pha lừa bóng rồi tung ra cú sút quyết đoán.Thế trận sau đó diễn ra khá bế tắc, vào phút bù giờ cuối cùng, sau pha phản công nhanh, David Villa ghi bàn ấn định tỉ số 2–1, giúp Tây Ban Nha đoạt vé sớm vào tứ kết. Trận đấu còn lại Tây Ban Nha thắng nhà đương kim vô địch Hy Lạp 2–1, giành điểm tối đa sau 3 trận đấu. Đương kim vô địch thế giới lúc đó-Ý là đối thủ của họ trong trận tứ kết, 120 phút kết thúc với tỷ số 0–0, Tây Ban Nha chiến thắng ở loạt luân lưu với tỉ số 4-2. Trong loạt sút luân lưu, trừ lần Guiza không thắng được Buffon ở loạt sút thứ tư, Tây Ban Nha đã thực hiện thành công cả bốn quả luân lưu còn lại bằng những cú sút lạnh lùng quyết đoán của Villa, Santi Cazorla, Senna rồi Fabregas. Nhưng công lớn nhất phải thuộc về thủ môn Iker Casillas. Trong một ngày thi đấu xuất thần, anh đã phán đoán chuẩn xác, đổ người từ chối các pha dứt điểm của Daniele De Rossi ở loạt sút thứ hai rồi Antonio Di Natale ở loạt sút thứ tư. Tây Ban Nha gặp lại Nga tại bán kết và cũng đánh bại họ một lần nữa với chiến thắng 3-0.[7]

Trận chung kết tại Sân vận động Ernst Happel, Viên. Tây Ban Nha đánh bại Đức 1-0 với bàn thắng duy nhất của Fernando Torres ở phút thứ 33.[8] Đây là danh hiệu lớn đầu tiên của Tây Ban Nha kể từ năm 1964.Tây Ban Nha cũng là đội ghi được nhiều bàn nhất với 12 bàn thắng, David Villa giành danh hiệu vua phá lưới, Xavi được bầu chọn là cầu thủ hay nhất giải, và có tới chín cầu thủ của Tây Ban Nha được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải.[9]

Cúp Liên đoàn các châu lục 2009Sửa đổi

Luis Aragonés đã quyết định ra đi trong vinh quang sau khi giành chức vô địch Euro 2008, người lên thay là Vicente del Bosque[10].

Năm 2008,David Villa ghi được 16 bàn/15 trận, phá vỡ kỷ lục của Raúl. Ngày 11 tháng 2 năm 2009, anh tiếp tục lập kỷ lục với bàn thắng vào lưới Đội tuyển Anh, trở thành cầu thủ Tây Ban Nha đầu tiên ghi bàn trong sáu trận liên tiếp.

Tây Ban Nha thắng cả ba trận vòng bảng của Confed Cup 2009. Trận thắng New Zealand 5-0, Torres cũng lập kỷ lục khi lập cú hat-trick nhanh nhất lịch sử. Hai trận đấu còn lại, Tây Ban Nha thắng Iraq 1-0 và thắng Nam Phi 2-0.

Ngày 24 tháng 6, kỉ lục bất bại 35 trận liên tiếp của Tây Ban Nha bị phá vỡ khi họ để thua Mỹ 2-0 ở bán kết. Tây Ban Nha đánh bại Nam Phi 3-2 sau hiệp phụ tại trận tranh giải ba.[11]

World Cup 2010Sửa đổi

Xem thêm:Giải vô địch bóng đá thế giới 2010, Trận chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới 2010

Tình huống đá phạt góc của Tây Ban Nha trong trận đấu với Bồ Đào Nha tại vòng knock-out World Cup 2010.

Tại World Cup 2010, Tây Ban Nha nằm ở bảng H cùng với Thụy Sĩ, Honduras và Chile. Tây Ban Nha thua 1-0 ở trận mở màn với Thụy Sĩ. Ở trận đấu thứ hai, họ đánh bại Honduras với hai bàn thắng của David Villa. Trận đấu cuối cùng của vòng bảng, vào ngày 25/6 với Chile kết thúc với chiến thắng 2-1[12].Tây Ban Nha giành quyền vào vòng knock-out, thắng Bồ Đào Nha 1-0, tứ kết họ tiếp tục thắng Paraguay 1-0 để giành quyền vào bán kết.[13]

Tây Ban Nha lần đầu tiên vào đến một trận Chung kết World Cup từ năm 1950 khi đánh bại Đức 1-0 ở bán kết với bàn thắng duy nhất tới từ cú đánh đầu của Carles Puyol.[14]

Trận chung kết với Hà Lan diễn ra không bàn thắng trong suốt 90 phút, buộc hai đội phải bước vào hiệp phụ. Andrés Iniesta ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu từ đường kiến tạo của Cesc Fàbregas ở phút thứ 116 tại hiệp phụ thứ 2. Qua đó, đội bóng đã giành chức vô địch World Cup lần đầu tiên.[15]

Tây Ban Nha cũng giành được giải thưởng Fair play của FIFA ngoài ra một số cầu thủ trong đội hình cũng có danh hiệu. Thủ môn Iker Casillas giành danh hiệu Găng tay vàng[16], David Villa giành Quả bóng đồng và chiếc giày bạc.

Đường tới vinh quang Euro 2012: Nhà vô địch châu Âu lần thứ 3Sửa đổi

Các cầu thủ Tây Ban Nha sau khi vô địch Euro 2012.

Vòng loại Euro 2012, Tây Ban Nha nằm ở bảng I với tỉ lệ chiến thắng 100%. Họ đánh bại CH Séc, Scotland, Litva và Liechtenstein để tiến vào vòng chung kết.

Đội trưởng Iker Casillas ăn mừng chức vô địch Euro 2012

VCK Tây Ban Nha nằm ở bảng C, cùng với Ý, Croatia và Cộng hòa Ireland. Trận mở màn với Ý vào ngày 10/6/2012, Ý vượt lên dẫn trước ở phút thứ 61, sau tình huống tấn công chớp nhoáng, Pirlo tung ra đường chuyền chính xác, tiền đạo vào thay người Antonio Di Natale dứt điểm hiểm hóc mở tỉ số của trận đấu,những phút sau đó Tây Ban Nha tìm lại được thế trận, và họ đã có bàn gỡ nhờ công của Cesc Fàbregas[17].

Trận đấu tiếp theo, với Cộng hòa Ireland vào ngày 14 tháng 6, tiền đạo của Chelsea Fernando Torres lập cú đúp, hai bàn thắng còn lại của David Silva và Cesc Fàbregas giúp Tây Ban Nha đại thắng 4-0.[18] Trận đấu cuối cùng của vòng bảng với Croatia vào ngày 18/6,khó khăn hơn các trận đấu khác, Croatia đã có những cơ hội ghi bàn khá rõ rệt. Khi trận đấu dần đi đến hồi kết, phút thứ 88, Jesús Navas ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu, giúp Tây Ban Nha tiến tới tứ kết.[19]

Tứ kết họ đối đầu với Pháp vào ngày 23 tháng 6 năm 2012, Tây Ban Nha mở tỷ số trận đấu, với cú đánh đầu của Xabi Alonso. Họ hoàn tất chiến thắng khi Pedro bị phạm lỗi trong vòng cấm địa, Alonso ghi bàn từ chấm penalty. Giúp Tây Ban Nha thắng 2-0, Xabi Alonso đánh dấu cột mốc 100 trận của anh cho tuyển [20].

Bán kết, Tây Ban Nha gặp Bồ Đào Nha, đội đã đánh bại Cộng hòa Czech ở tứ kết với bàn thắng muộn của Cristiano Ronaldo. Bồ Đào Nha ép sân ngay từ những phút đầu, tạo ra nhiều cơ hội nhưng không thể chuyển hóa thành bàn thắng. Tây Ban Nha vẫn bình tĩnh phòng ngự buộc trận đấu phải đi vào loạt sút luân lưu. Cao trào được đẩy lên khi Bruno Alves sút hỏng quả penalty thứ 4. Kết quả Tây Ban Nha giành chiến thắng 4-2 trên chấm luân lưu.[21] Đây đã là trận chung kết Euro thứ tư của họ, lần trước vào các năm 1964, 1984 và 2008.

Chung kết Euro 2012, Tây Ban Nha giành chức vô địch khi ghi bốn bàn thắng vào lưới Ý. Hiệp 1, họ nhanh chóng kiểm soát thế trận với hai bàn thắng ở phút thứ 14 do công của David Silva và 41 của Jordi Alba. Hiệp hai, Ý sử dụng lượt thay người cuối cùng của mình, thay Antonio Di Natale bằng Thiago Motta, ngay sau khi vào sân, Motta đã bị chấn thương gân kheo, vì đã hết quyền thay người, Ý chỉ còn thi đấu với 10 cầu thủ. Tây Ban Nha ghi thêm hai bàn thắng trong hiệp 2, nhờ công của Fernando Torres và Juan Mata ở phút thứ 84 và 88, giúp Tây Ban Nha vô địch Euro 2012 lần thứ hai liên tiếp[22]. Đây cũng là danh hiệu thứ 3 liên tiếp của họ sau (Euro 2008 và World Cup 2010). Fernando Torres kết thúc giải với 3 bàn thắng và nhận danh hiệu vua phá lưới.

Tây Ban Nha cũng lập nên một vài kỷ lục sau chức vô địch:

  • Tây Ban Nha trở thành đội bóng đầu tiên vô địch ba giải đấu lớn liên tiếp (Euro 2008, World Cup 2010 và Euro 2012)
  • Trận Chung kết Euro 2012 có cách biệt lớn nhất (4-0) nhiều hơn 1 bàn so với trận chung kết năm 1972 (Tây Đức 3-0 Liên Xô)
  • Tây Ban Nha trở thành đội bóng thành công nhất lịch sử Euro, cùng với đội tuyển Đức (ba danh hiệu vô địch)
  • Tây Ban Nha trở thành đội có hiệu số bàn thắng lớn nhất lịch sử Euro, 12-1.

Cúp Liên đoàn các châu lục 2013Sửa đổi

Tây Ban Nha bắt đầu Confed Cup 2013 bằng trận thắng 2-1 trước Uruguay, trận đấu mà Tây Ban Nha kiểm soát hoàn toàn thế trận, tung ra 9 cú sút trúng đích, trong khi Uruguay chỉ có 1 và cũng là cú sút mang lại bàn thắng của Luis Suárez[23]. Trận đấu thứ hai của vòng bảng với Tahiti, Tây Ban Nha đã phá kỷ lục về trận thắng đậm nhất của FIFA, 10-0, với cú poker của Fernando Torres và hat-trick của David Villa[24]. Trận đấu cuối cùng họ thắng Nigeria 3-0, hoàn tất vòng bảng với ba trận toàn thắng.[25]

Trong trận bán kết với Đội tuyển Ý, hòa 0-0 trong cả thời gian đá chính và hiệp phụ, Tây Ban Nha đã thắng 7-6 trên chấm penalty khi Jesús Navas thực hiện thành công còn Bonucci đá hỏng[26], giúp Tây Ban Nha tiến tới trận chung kết Confed Cup đầu tiên, nhưng lại để thua Brazil 3-0. Họ được an ủi với danh hiệu chiếc giày vàng cho Fernando Torres.

Giải vô địch bóng đá thế giới 2014Sửa đổi

Tại giải đấu này, với tư cách đương kim vô địch, Tây Ban Nha được đánh giá là một trong những ứng cử viên của chức vô địch[27]. Họ được bốc thăm vào một bảng đấu được đánh giá không khó khăn gồm Hà Lan, Chile và Úc. Trận đấu đầu tiên của họ tái hiện trận chung kết World Cup 2010. Tây Ban Nha dẫn trước nhờ cú phạt đền thành công của Xabi Alonso, nhưng Hà Lan mới chứng tỏ họ là đội mạnh hơn. Tây Ban Nha mất điều khiển trận đấu và thất bại với tỉ số bất ngờ 1-5[28]. Trận tiếp theo gặp Chile để duy trì hi vọng nhưng Tây Ban Nha tiếp tục thua 0-2[29]. Với hai trận thất bại, Tây Ban Nha trở thành một trong những đội đầu tiên bị loại khỏi giải này và gia nhập vào danh sách những nhà đương kim vô địch thế giới bị chính thức loại ở vòng bảng World Cup cùng với Brasil năm 1966, Pháp năm 2002 và Ý năm 2010 (Ý cũng bị loại từ vòng bảng World Cup 1950). Ở trận đấu cuối cùng, Tây Ban Nha thắng Úc với tỉ số 3-0 để kết thúc giải ở vị trí thứ ba bảng đấu[30].

Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016Sửa đổi

Tây Ban Nha đến với Euro 2016 với mục tiêu là để bảo vệ thành công ngôi vô địch. Ở giải đấu này, Tây Ban Nha nằm cùng bảng với các đội Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hòa Séc và Croatia; kết thúc vòng bảng, Tây Ban Nha xếp thứ hai sau Croatia, lọt vào vòng 16 đội nhưng thất bại chung cuộc trước Ý. Sau Euro 2016, huấn luyện viên Vicente del Bosque giã từ sự nghiệp huấn luyện.

Giải vô địch bóng đá thế giới 2018Sửa đổi

Tây Ban Nha mở màn World Cup 2018 với trận hòa 3-3 trước Bồ Đào Nha, đây là trận đấu TBN có 3 bàn thắng của Diego Costa và Nacho Fernández còn BĐN là hattrick của Cristiano Ronaldo. Trận đấu thứ hai, Tây Ban Nha dành chiến thắng 1-0 trước Iran với bàn thắng của Diego Costa. Lượt trận thứ 3, TBN hòa 2-2 Maroc bằng các bàn thắng của Isco, Iago Aspas để có ngôi đầu bảng. Bước vào vòng 16 đội, Tây Ban Nha gặp chủ nhà Nga, trận đấu mở màn bằng bàn phản lưới nhà của lão tướng Sergei Ignashevich bên phía Nga, phút 41 trận đấu Gerard Piqué để bóng chạm tay vô duyên trong vòng cấm và Artem Dzyuba chớp lấy cơ hội để gỡ hòa. Hai đội kéo nhau vào penalty, tại đây Tây Ban Nha để thủ thành Igor Akinfeev cản phá 2 quả pen và thua với tỉ số 4-3 trên loạt đấu súng. Fernando Hierro cùng các học trò đã phải dừng bước đầy tiếc nuối.

Phong cách thi đấuSửa đổi

Tiqui-Taca là lối chơi sử dụng các đường chuyền ngắn nhằm nâng cao tỉ lệ kiểm soát bóng. Sơ đồ chiến thuật lý tưởng cho Tiqui-Taca là 4-3-3, hay đôi khi có biến thể là 4-1-2-3 và 3-4-3. Bên cạnh đó, đi kèm phải là lối tấn công phối hợp nhómphòng ngự khu vực đạt độ ăn ý cao.

Tiqui-Taca là chuyền và chạy. Bóng được chuyền sệt, và chuyền liên tục từ cầu thủ này sang cầu thủ khác. Các cầu thủ không có bóng phải linh động di chuyển để đón bóng. Nhưng vì chỉ tăng tốc và di chuyển trong phạm vi ngắn nên cầu thủ mất sức không nhiều; ngược lại, đội đối phương nếu không thích nghi sẽ bị mất sức do đeo bám và dễ bị rối loạn đội hình.

Barcelona và Tây Ban Nha đã gây dựng một tiqui-taca gần như hoàn hảo và nó đang ngày càng phổ biến trên toàn thế giới. Tất cả các đội trẻ của Barcelona hiện giờ đều phải học đá và vận hành chiến thuật theo kiểu tiqui-taca.

Logo và trang phục thi đấuSửa đổi

Logo chính thức của Đội tuyển Tây Ban Nha là hình Quốc huy với phía trên là số 1909 tương ứng với năm thành lập Liên đoàn, phía dưới là một dải băng in 4 chữ “RFEF” là viết tắt của Real Federación Española de Fútbol (“Liên đoàn Bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha” trong tiếng Tây Ban Nha) và một quả bóng ở giữa. Tại các kỳ World Cup, một ngôi sao vàng sẽ được in lên trên cùng, tượng trung cho một lần vô địch.

Trang phục thi đấu truyền thống của Đội tuyển Tây Ban Nha là áo màu đỏ, quần xanh đậm hoặc đen, tất đỏ hoặc đen hay xanh đậm. Trang phục thi đấu phụ hiện tại là màu áo trắng với hoa văn màu đỏ hoặc vàng, quần trắng và tất trắng. Đội cũng từng sử dụng màu áo thi đấu phụ là màu đen hay xanh da trời.

1920-21

1921-22

1922-24

1924-31

1931-36

1936-38

1938-45

1945-47

1947-59

1959-79

1959-79 (sân khách)

1979-81

1981-83

1984-86

1984-86 (sân khách)

1986-87

1986-87 (sân khách)

1988-91

1988-91 (sân khách)

1988-91 (thứ ba)

1991-92

1992-94

1994-96

1994-96 (sân khách)

1996-98

1998-2000

1998-2000 (sân khách)

2000-02

2002-04

2004-06

2004-06 (sân khách)

2006-08

2006-08 (sân khách)

2008-09

2008-10 (sân khách)

2009-10

2010-11

2010-11 (sân khách)

2011-12

2011-12 (sân khách)

2012-13

2012-14 (sân khách)

2013-14

2014-15

2014-15 (sân khách)

2015-

2015- (sân khách)

Tài trợ trang phụcSửa đổi

Nhà tài trợ Thời gian
Không rõ 1920-1981
Adidas 1981-1983
Le Coq Sportif 1984-1992
Adidas 1992-nay

Giải đấuSửa đổi

Giải vô địch bóng đá thế giớiSửa đổi

Tây Ban Nha giành chức vô địch World Cup 2010 ở Nam Phi.

Năm Kết quả St T H [31] B Bt Bb
1930 Không tham dự
1934 Tứ kết 3 1 1 1 4 3
1938 Không tham dự vì nội chiến
1950 Hạng tư 6 3 1 2 10 12
1954 Không vượt qua vòng loại
1958
1962 Vòng 1 3 1 0 2 2 3
1966 Vòng 1 3 1 0 2 4 5
1970 Không vượt qua vòng loại
1974
1978 Vòng 1 3 1 1 1 2 2
1982 Vòng 2 5 1 2 2 4 5
1986 Tứ kết 5 3 1 1 11 4
1990 Vòng 2 4 2 1 1 6 4
1994 Tứ kết 5 2 2 1 10 6
1998 Vòng 1 3 1 1 1 8 4
2002 Tứ kết 5 3 2 0 10 5
2006 Vòng 2 4 3 0 1 9 4
2010 Vô địch 7 6 0 1 8 2
2014 Vòng 1 3 1 0 2 4 7
2018 Vòng 2 4 1 3 0 7 6
2022 Vượt qua vòng loại
2026 Chưa xác định
Tổng cộng 16/22
1 lần: Vô địch
63 30 15 18 99 72

Giải vô địch bóng đá châu ÂuSửa đổi

Các cầu thủ Tây Ban Nha ăn mừng chức vô địch Euro 2012

Năm Kết quả St T H [31] B Bt Bb
1960 Bỏ cuộc ở vòng loại
1964 Vô địch 2 2 0 0 4 2
1968 Không vượt qua vòng loại
1972
1976
1980 Vòng 1 3 0 1 2 2 4
1984 Á quân 5 1 3 1 4 5
1988 Vòng 1 3 1 0 2 3 5
1992 Không vượt qua vòng loại
1996 Tứ kết 4 1 3 0 4 3
2000 Tứ kết 4 2 0 2 7 7
2004 Vòng 1 3 1 1 1 2 2
2008 Vô địch 6 5 1 0 12 3
2012 Vô địch 6 4 2 0 12 1
2016 Vòng 2 4 2 0 2 5 4
2020 Bán kết 6 2 4 0 13 6
2024 Chưa xác định
Tổng cộng 11/16
3 lần: Vô địch
46 21 15 10 68 42

Cúp Liên đoàn các châu lụcSửa đổi

Năm Kết quả St T H [31] B Bt Bb
1992 Không giành quyền tham dự
1995
1997
1999
2001
2003
2005
2009 Hạng ba 5 4 0 1 11 4
2013 Á quân 5 3 1 1 15 4
2017 Không giành quyền tham dự
Tổng cộng 2/10
1 lần: Á quân
10 7 1 2 26 8

UEFA Nations LeagueSửa đổi

Mùa giải Hạng đấu Bảng Pld W D L GF GA RK
2018–19 A 4 4 2 0 2 12 7 7th
2020–21 A 4 8 4 2 2 16 6 2nd
2022–23 A Chưa xác định
Tổng cộng 12 6 2 4 28 13 2nd

Thế vận hộiSửa đổi

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
Năm Kết quả Thứ hạng Pld W D L GF GA
1920 Huy chương bạc 2nd 5 4 0 1 9 5
1924 Vòng 1 17th 1 0 0 1 0 1
1928 Tứ kết 6th 3 1 1 1 9 9
1936 Bỏ cuộc
1948 Không vượt qua vòng loại
1952
1956
1960
1964
1968 Tứ kết 5th 4 2 1 1 4 2
1972 Không vượt qua vòng loại
1976 Vòng bảng 13th 2 0 0 2 1 3
1980 Vòng bảng 10th 3 0 3 0 2 2
1984 Không vượt qua vòng loại
1988
Tổng cộng 1 lần huy
chương bạc
6/15 18 7 5 6 25 22

Kỷ lụcSửa đổi

Đội bóngSửa đổi

Số trận bất bại liên tiếp
35 trận (2007-2009) (bằng với Brasil từ 1993-1996)
Số trận thắng liên tiếp (bao gồm cả giao hữu)
15 trận (2008-2009)
Số trận bất bại liên tiếp ở các giải đấu chính thức của FIFA
28 trận (2010-2013)[32]
Số trận thắng nhiều nhất bởi 1 huấn luyện viên nước ngoài
13 trận – Vicente del Bosque
Số điểm cao nhất ở vòng loại World Cup
30/30 điểm World Cup 2010, vòng loại bảng 5
Đội vô địch World Cup để thủng lưới ít nhất
2 bàn – World Cup 2010 (bằng với Pháp, 1998 và Ý, 2006)

Cầu thủSửa đổi

Số trận khoác áo nhiều nhất
180- Sergio Ramos
Số bàn thắng nhiều nhất
59 – David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất trong 1 mùa giải
13 – David Villa (2008-2009)
Số hattrick ghi được nhiều nhất
3 – Fernando Torres và David Villa
Số trận ghi bàn liên tiếp
6 – David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở World Cup
8 – David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ World Cup
5 – Emilio Butragueño(1986) & David Villa(2010)
Số trận ghi bàn liên tiếp ở World Cup
4 – David Villa(2010)
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở Euro
5 – Fernando Torres
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ Euro
4 – David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở Confed Cup
8 – Fernando Torres
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ Confed Cup
5 – Fernando Torres

Danh sách cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhấtSửa đổi

Sergio Ramos là cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất với 180 trận

Danh sách cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất tính đến ngày 29 tháng 3 năm 2022:

Các cầu thủ in đậm vẫn đang thi đấu cho đội tuyển.

# Cầu thủ Thời gian khoác áo Số trận Bàn thắng
1 Sergio Ramos 2005–nay 180 23
2 Iker Casillas 2000–2016 167 0
3 Sergio Busquets 2009–nay 133 2
Xavi Hernández 2000–2014 133 12
5 Andrés Iniesta 2006–2018 131 14
6 Andoni Zubizarreta 1985–1998 126 0
7 David Silva 2006–2018 125 35
8 Xabi Alonso 2003–2014 114 16
9 Fernando Torres 2003–2014 110 38
Cesc Fàbregas 2006–2016 110 15

Danh sách cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhấtSửa đổi

David Villa là cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhất với 59 bàn.

Danh sách cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhất tính đến ngày 29 tháng 3 năm 2022:

# Cầu thủ Thời gian khoác áo Bàn thắng Số trận Hiệu suất
1 David Villa 2005–2014 59 98 0.61
2 Raúl González 1996–2006 44 102 0.43
3 Fernando Torres 2003–2014 38 110 0.35
4 David Silva 2006–2018 35 125 0.25
5 Fernando Hierro 1989–2002 29 89 0.33
6 Fernando Morientes 1998–2007 27 47 0.57
7 Emilio Butragueño 1984–1992 26 69 0.38
8 Álvaro Morata 2014– 25 52 0.48
9 Alfredo Di Stéfano 1957–1961 23 31 0.74
Sergio Ramos 2005–nay 23 180 0.04

Số lần ghi bàn trên chấm phạt đềnSửa đổi

Tính đến ngày 14 tháng 6 năm 2015, có tất cả năm cầu thủ ghi từ 5 bàn thắng trở lên trên chấm phạt đền cho đội tuyển:

Penalties Player
9 Fernando Hierro
Míchel
7 David Villa
6 Xabi Alonso
5 Fernando Torres

Huấn luyện viênSửa đổi

Các huấn luyện viên trưởng đội tuyển Tây Ban Nha

  • 1920–1920: Francisco Bru
  • 1921–1922: Julián Ruete
  • 1921–1928: José Berraondo
  • 1921–1927: Manuel Castro González
  • 1922–1933: José María Mateos
  • 1922–1922: Salvador Díaz Iraola
  • 1923–1923: Luis Argüello Brage
  • 1923–1924: Pedro Parages
  • 1923–1924: José García Cernuda
  • 1924–1924: Luis Colina Alvarez
  • 1924–1924: José Rosich Rubiera
  • 1924–1924: Julián Olave Videa
  • 1925–1925: Fernando Gutiérrez Alzaga
  • 1925–1925: Ricardo Cabot Montalt
  • 1926–1927: Ezequiel Montero Román
  • 1934–1936: Amadeo García Salazar
  • 1941–1942: Eduardo Teus López
  • 1945–1945: Jacinto Quincoces
  • 1946–1946: Luis Casas Pasarín
  • 1947–1962: Pablo Hernández Coronado
  • 1948–1956: Guillermo Eizaguirre
  • 1951–1951: Félix Quesada
  • 1951–1951: Luis Iceta
  • 1951–1951: Paulino Alcántara
  • 1952–1952: Ricardo Zamora
  • 1952–1961: Pedro Escartín Morán
  • 1953–1954: Luis Iribarren Cavanilles
  • 1955–1955: José Luis del Valle
  • 1955–1955: Juan Touzón Jurjo
  • 1957–1959: Manuel Meana
  • 1959–1960: José Luis Costa
  • 1959–1960: José Luis Lasplazas
  • 1959–1960: Ramón Gabilondo
  • 1962–1966: José Villalonga
  • 1966–1968: Domingo Balmanya
  • 1968–1969: Eduardo Toba
  • 1969–1969: Luis Molowny
  • 1969–1969: Salvador Artigas
  • 1969–1969: Miguel Muñoz
  • 1969–1980: Ladislao Kubala
  • 1980–1982: José Santamaria
  • 1982–1988: Miguel Muñoz
  • 1988–1991: Luis Suárez
  • 1991–1992: Vicente Miera
  • 1992–1998: Javier Clemente
  • 1998–2002: José Antonio Camacho
  • 2002–2004: Iñaki Sáez
  • 2004–2008: Luis Aragonés
  • 2008–2016: Vicente del Bosque
  • 2016–2018: Julen Lopetegui
  • 2018: Fernando Hierro
  • 2018–2019: Luis Enrique
  • 2019: Robert Moreno
  • 2019–: Luis Enrique

Lịch đấuSửa đổi

Đội hìnhSửa đổi

Đội hình tham dự vòng loại World Cup 2022 gặp Hy Lạp và Thụy Điển vào tháng 11 năm 2021.
Số liệu thống kê tính đến ngày 14 tháng 11 năm 2021 sau trận gặp Thụy Điển.

0#0 Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bt Câu lạc bộ
1 1TM David de Gea 7 tháng 11, 1990 (31tuổi) 45 0 Manchester United
13 1TM Robert Sánchez 18 tháng 11, 1997 (24tuổi) 1 0 Brighton & Hove Albion
23 1TM Unai Simón 11 tháng 6, 1997 (24tuổi) 20 0 Athletic Bilbao

2 2HV César Azpilicueta 28 tháng 8, 1989 (32tuổi) 36 1 Chelsea
3 2HV Pau Torres 17 tháng 1, 1997 (25tuổi) 16 1 Villarreal
6 2HV Diego Llorente 16 tháng 8, 1993 (28tuổi) 8 0 Leeds United
14 2HV José Gayà 25 tháng 5, 1995 (27tuổi) 17 3 Valencia
15 2HV Aymeric Laporte 27 tháng 5, 1994 (28tuổi) 14 1 Manchester City
18 2HV Jordi Alba 21 tháng 3, 1989 (33tuổi) 80 8 Barcelona
20 2HV Dani Carvajal 11 tháng 1, 1992 (30tuổi) 26 0 Real Madrid
2HV Iñigo Martínez 17 tháng 5, 1991 (31tuổi) 17 0 Athletic Bilbao

5 3TV Sergio Busquets (đội trưởng) 16 tháng 7, 1988 (33tuổi) 133 2 Barcelona
8 3TV Koke 8 tháng 1, 1992 (30tuổi) 61 0 Atlético Madrid
9 3TV Gavi 5 tháng 8, 2004 (17tuổi) 4 0 Barcelona
10 3TV Carlos Soler 2 tháng 1, 1997 (25tuổi) 4 2 Valencia
12 3TV Brais Méndez 7 tháng 1, 1997 (25tuổi) 4 1 Celta Vigo
16 3TV Rodri 22 tháng 6, 1996 (25tuổi) 30 1 Manchester City
17 3TV Mikel Merino 22 tháng 6, 1996 (25tuổi) 11 0 Real Sociedad
21 3TV Dani Olmo 7 tháng 5, 1998 (24tuổi) 18 3 RB Leipzig
3TV Pablo Fornals 22 tháng 2, 1996 (26tuổi) 6 1 West Ham United

4 4 Brahim Díaz 3 tháng 8, 1999 (22tuổi) 1 1 Milan
7 4 Álvaro Morata 23 tháng 10, 1992 (29tuổi) 50 23 Juventus
11 4 Raúl de Tomás 17 tháng 10, 1994 (27tuổi) 2 0 Espanyol
19 4 Rodrigo 6 tháng 3, 1991 (31tuổi) 27 8 Leeds United
22 4 Pablo Sarabia 11 tháng 5, 1992 (30tuổi) 16 5 Sporting CP

Triệu tập gần đâySửa đổi

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Kepa Arrizabalaga 3 tháng 10, 1994 (27tuổi) 11 0 Chelsea UEFA Euro 2020 PRE
TM Álvaro Fernández 13 tháng 4, 1998 (24tuổi) 1 0 Brentford UEFA Euro 2020 PRE
TM Josep Martínez 27 tháng 5, 1998 (24tuổi) 1 0 RB Leipzig v. Litva, 8 June 2021
TM Iñaki Peña 2 tháng 3, 1999 (23tuổi) 0 0 Barcelona B v. Litva, 8 June 2021

HV Eric García 9 tháng 1, 2001 (21tuổi) 14 0 Barcelona v. Hy Lạp, 11 November 2021 INJ
HV Marcos Alonso 28 tháng 12, 1990 (31tuổi) 5 0 Chelsea v. Pháp, 10 October 2021
HV Sergio Reguilón 16 tháng 12, 1996 (25tuổi) 6 0 Tottenham Hotspur v. Pháp, 10 October 2021
HV Pedro Porro 13 tháng 9, 1999 (22tuổi) 1 0 Sporting CP 2021 UEFA Nations League Finals
HV Raúl Albiol 4 tháng 9, 1985 (36tuổi) 58 0 Villarreal v. Kosovo, 8 September 2021
HV Juan Miranda 19 tháng 1, 2000 (22tuổi) 1 1 Real Betis UEFA Euro 2020 PRE
HV Marc Cucurella 22 tháng 7, 1998 (23tuổi) 1 0 Brighton & Hove Albion UEFA Euro 2020 PRE
HV Óscar Mingueza 13 tháng 5, 1999 (23tuổi) 1 0 Barcelona UEFA Euro 2020 PRE
HV Alejandro Pozo 22 tháng 2, 1999 (23tuổi) 1 0 Almería UEFA Euro 2020 PRE
HV Hugo Guillamón 31 tháng 1, 2000 (22tuổi) 1 1 Valencia v. Litva, 8 June 2021
HV Óscar Gil 26 tháng 4, 1998 (24tuổi) 1 0 Espanyol v. Litva, 8 June 2021
HV Jorge Cuenca 17 tháng 11, 1999 (22tuổi) 0 0 Villarreal v. Litva, 8 June 2021
HV Sergio Ramos 30 tháng 3, 1986 (36tuổi) 180 23 Paris Saint-Germain v. Kosovo, 31 March 2021

TV Marcos Llorente 30 tháng 1, 1995 (27tuổi) 12 0 Atlético Madrid 2021 UEFA Nations League Finals INJ
TV Pedri 25 tháng 11, 2002 (19tuổi) 10 0 Barcelona 2021 UEFA Nations League Finals INJ
TV Sergi Roberto 7 tháng 2, 1992 (30tuổi) 11 1 Barcelona v. Ý, 6 October 2021
TV Thiago Alcântara 11 tháng 4, 1991 (31tuổi) 46 2 Liverpool UEFA Euro 2020
TV Fabián Ruiz 3 tháng 4, 1996 (26tuổi) 15 1 Napoli UEFA Euro 2020
TV Gonzalo Villar 23 tháng 3, 1998 (24tuổi) 1 0 Roma UEFA Euro 2020 PRE
TV Martín Zubimendi 2 tháng 2, 1999 (23tuổi) 1 0 Real Sociedad UEFA Euro 2020 PRE
TV Fran Beltrán 3 tháng 2, 1999 (23tuổi) 1 0 Celta Vigo v. Litva, 8 June 2021
TV Antonio Blanco 23 tháng 7, 2000 (21tuổi) 1 0 Real Madrid Castilla v. Litva, 8 June 2021
TV Manu García 2 tháng 1, 1998 (24tuổi) 1 0 Alavés v. Litva, 8 June 2021
TV Sergio Canales 16 tháng 2, 1991 (31tuổi) 10 1 Real Betis v. Kosovo, 31 March 2021

Yeremi Pino 20 tháng 10, 2002 (19tuổi) 2 0 Villarreal v. Hy Lạp, 11 November 2021 INJ
Ansu Fati 31 tháng 10, 2002 (19tuổi) 4 1 Barcelona v. Hy Lạp, 11 November 2021 INJ
Ferran Torres 29 tháng 2, 2000 (22tuổi) 22 12 Manchester City v. Pháp, 10 October 2021
Mikel Oyarzabal 21 tháng 4, 1997 (25tuổi) 21 6 Real Sociedad v. Pháp, 10 October 2021
Bryan Gil 11 tháng 2, 2001 (21tuổi) 4 0 Tottenham Hotspur v. Pháp, 10 October 2021
Adama Traoré 25 tháng 1, 1996 (26tuổi) 8 0 Wolverhampton Wanderers v. Kosovo, 8 September 2021
Abel Ruiz 28 tháng 1, 2000 (22tuổi) 2 0 Braga v. Gruzia, 5 September 2021
Gerard Moreno 7 tháng 4, 1992 (30tuổi) 17 5 Villarreal v. Thụy Điển, 2 September 2021
Javi Puado 25 tháng 5, 1998 (24tuổi) 1 1 Espanyol UEFA Euro 2020 PRE

Chú thích:

  • COV Cầu thủ rút lui do dương tính với COVID-19
  • INJ Cầu thủ rút lui vì chấn thương
  • PRE Danh sách sơ bộ.
  • RET Cầu thủ đã giã từ đội tuyển quốc gia

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ La Roja” from Miguel, Spain”. ngày 17 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
  2. ^ “La Roja lean to the left”. FIFA. ngày 16 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012.
  3. ^ “Statistics– Most-capped players”. European football database. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2016.
  4. ^ “Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới”. FIFA. 31 tháng 3 năm 2022. Truy cập 31 tháng 3 năm 2022.
  5. ^ Elo rankings change compared to one year ago. “World Football Elo Ratings”. eloratings.net. 31 tháng 3 năm 2022. Truy cập 31 tháng 3 năm 2022.
  6. ^ Brazil, Tây Ban Nha nhận giải thưởng fairplay Lưu trữ 2014-12-25 tại Wayback Machine Tuổi Trẻ Online
  7. ^ Tây Ban Nha 3-0 Nga VnExpress
  8. ^ Tây Ban Nha lần thứ hai vô địch Euro Ngoisao.net
  9. ^ ĐHTB Euro 2008 Tienphong.vn
  10. ^ “Del Bosque chính thức ra mắt làm HLV đội tuyển Tây Ban Nha”. Báo Thể thao & Văn hóa – Thông tấn xã Việt Nam. Truy cập 2 tháng 2 năm 2016.
  11. ^ Confederations Cup 2009: Thắng Nam Phi 3 – 2, Tây Ban Nha giành giải ba Sài Gòn Giải Phóng Online
  12. ^ Lượt trận cuối bảng H (rạng sáng 26-6) Tây Ban Nha – Chile 2-1 Sài Gòn giải phóng Online
  13. ^ Thắng Paraguay 1 – 0, Tây Ban Nha tiến vào bán kết Sài Gòn giải phóng Online
  14. ^ Bán kết World Cup 2010 Đức – Tây Ban Nha 0-1: Bất ngờ cuối cùng Lưu trữ 2012-03-24 tại Wayback Machine Online Thiếu Niên
  15. ^ Hà Lan – Tây Ban Nha 0-1: Iniesta đưa “vua” châu Âu lên đỉnh thế giới Thể thao & Văn hóa
  16. ^ Iker Casillas giành giải thưởng găng tay vàng Giáo dục & Thời đại Online
  17. ^ EURO 2012 – Bảng C: Tây Ban Nha hòa Italia 1 – 1 Sài Gòn giải phóng Online
  18. ^ Torres lập cú đúp, Tây Ban Nha đại thắng Cộng Hòa Ireland Diễn đàn Dân Trí Việt Nam
  19. ^ Tây Ban Nha 1-0 Croatia: Tiếc cho “kẻ bại trận” Tin Thể thao
  20. ^ Tây Ban Nha 2 – 0 Pháp: Alonso tiễn Pháp về nước[liên kết hỏng] Đài tiếng nói Việt Nam
  21. ^ Bồ Đào Nha 0 – 0 Tây Ban Nha (luân lưu: 2-4): TBN vào chung kết Giáo dục Việt Nam
  22. ^ Tây Ban Nha 4-0 Italia: “La Roja” đi vào lịch sử Thể thao & Văn hóa. Thứ Hai, 02/07/2012 01:34
  23. ^ Tây Ban Nha 2-1 Uruguay: Tiki-taka hồi sinh VnExpress
  24. ^ Torres-Villa rực sáng, Tây Ban Nha “hủy diệt” Tahiti 10-0 Diễn đàn Dân Trí Việt Nam
  25. ^ Nigeria-Tây Ban Nha (0-3): Chia tay Đại bàng xanh Lưu trữ 2013-07-30 tại Wayback Machine Dân Việt
  26. ^ Tây Ban Nha 0-0 Italia (Penalty 7-6): Thắng nghẹt thở, TBN hẹn Brazil ở trận chung kết Thể thao & Văn hóa. Thứ Năm, 27/06/2013 21:55
  27. ^ “La agenda del día: 13 de junio”. FIFA.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2014. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  28. ^ “Van Gaal masterminds Dutch destruction of Spain”. ESPN.co.uk. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  29. ^ “World Cup: Spain go out of World Cup after 2-0 loss to Chile”. SkySports. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  30. ^ “Australia v Spain”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  31. ^ a b c Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
  32. ^ “Tây Ban Nha đã lập nên kỷ lục “vô tiền khoáng hậu”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. 24 tháng 6 năm 2013. Truy cập 2 tháng 2 năm 2016.

Liên kết ngoàiSửa đổi

  • Trang chủ Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha (RFEF) Lưu trữ 2008-05-04 tại Wayback Machine (tiếng Tây Ban Nha)
  • Thống kê RSSSF về kết quả của đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha từ năm 1920 (tiếng Anh)
  • Thống kê của RSSSF về cầu thủ Tây Ban Nha khoác áo đội tuyển và ghi bàn nhiều nhất (tiếng Anh)
Danh hiệu
Tiền nhiệm:
Liên Xô
Vô địch châu Âu
1964
Kế nhiệm:
Ý
Tiền nhiệm:
Hy Lạp
Vô địch châu Âu
2008, 2012
Kế nhiệm:
Bồ Đào Nha
Tiền nhiệm:
Ý
Vô địch thế giới
2010
Kế nhiệm:
Đức

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.