Dinh cao van hoa ly tran va hau le

Tiểu luận triết học về mối liên hệ phổ biến

Dinh cao van hoa ly tran va hau le

Loading Preview

Sorry, preview is currently unavailable. You can download the paper by clicking the button above.

Tóm tắt nội dung tài liệu

  1. Tiểu luận triết học – PHÉP BIỆN
    CHỨNG DUY VẬT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 1
  2. MỤC LỤC Trang LỜI GIỚI THIỆU 1
    LỜI CẢM ƠN 2
    CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 3
    1. Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến 3
    1.1. Phép biện chứng duy vật 3
    1.2. Nội dung của phép biện chứng duy vật 3
    2. Một trong hai nguyên lý của phép biện chứng: Nguyên lý về mối 4
    liên hệ phổ biến
    2.1. Khái niệm 4
    2.2. Nội dung nguyên lý 4
    2.3. Ý nghĩa của nguyên lý 4
    3. Tại sao phải vận dụng phép duy vật biện chứng về mối lien hệ phổ 5
    biến vào phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự
    chủ với hội nhập kinh tế quốc tế
    CHƯƠNG II: XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI HỘI 7
    NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC.
    I. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 7
    1.1. Thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ 8
    1.2. Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay 9
    1.3. Khó khăn và thử thách khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 12
    2. Hội nhập kinh tế quốc tế 14
    2.1. Thế nào là hội nhập kinh tế quốc tế 14
    2.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan tới chủ trương hội nhập 14
    kinh tế quốc tế ở nước ta
    2.3. Những kết quả đạt được khi Việt Nam tham gia quá trình hội nhập 16
    kinh tế quốc tế
    2.4. Những mặt yếu kém và tồn tại khi Việt Nam tham gia vào quá 18 2
  3. trình hội nhập kinh tế quốc tế
    CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 21
    1. Đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 21
    1.1. Mục tiêu 21
    1.2. Một số điều kiện xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 21
    2. Đường lối hội nhập kinh tế quốc tế 24
    2.1. Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế 24
    2.2. Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập 24
    2.3. Một số nhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 25
    KẾT LUẬN 29
    MỤC LỤC 30
    TÀI LIỆU THAM KHẢO 32 LỜI GIỚI THIỆU Trong xu thế toàn cầu hoá quốc tế hoá hiện nay, các quốc gia trên thế
    giới ở mức độ này hay mức độ khác đều tuỳ thuộc lẫn nhau, có quan hệ qua
    lại với nhau. Vì thế nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược lại xu thế của
    thời đại và khó tránh khỏi bị rơi vào lạc hậu, trái lại mở cửa hội nhập kinh tế
    quốc tế tuy có phải trả giá nhất định song đó là yêu cầu tất yếu hướng tới sự
    phát triển của mỗi nước, mỗi quốc gia. Đứng trước yêu cầu ngày càng cấp bách đó, Đại hội Đảng IX đã đưa ra
    văn kiện về vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế
    quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự
    chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn đúng đắn và chính xác.
    Hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau nhằm phát
    triển nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh theo định hướng xã hội chủ
    nghĩa. Trên cơ sở phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến tôi viết bài tiểu luận
    này với mong muốn mọi người có một cách nhìn sâu sắc hơn, cặn kẽ hơn,
    toàn diện hơn về những nguy cơ thách thức cũng như thời cơ khi chúng ta
    tham gia vào quá trình hội nhập kết hợp với xây dựng nền kinh tế độc lập tự 3
  4. chủ, và ảnh hưởng qua lại giữa việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với
    hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận tôi không thể trình bày
    tất cả các vấn đề liên quan đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và
    hội nhập kinh tế quốc tế mà chỉ có thể đi sâu vào nghiên cứu phân tích mối
    quan hệ giữa chúng đồng thời đưa ra những giải pháp, những kiến nghị nhằm
    góp phần hoàn thiện đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp
    với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. 4
  5. CHƯƠNG I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 1. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT LÀ KHOA HỌC VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN. 1.1. Phép biện chứng duy vật Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định bản chất vật chất,
    tính thống nhất vật chất của thế giới, mà còn khẳng định các sự vật, hiện
    tượng trong thế giới luôn tồn tại trong sự liên hệ, trong sự vận động và phát
    triển không ngừng theo những quy luật vốn có của nó. Làm sáng tỏ những
    vấn đề đó là nội dung cơ bản của phép biện chứng. Chính vì vậy, Ph.Ănghen
    đã khẳng định rằng phép biện chứng là lý luận về mối liên hệ phổ biến, là
    môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của
    tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy. V.I. Lênin nhấn mạnh thêm:
    Phép biện chứng là học thuyết sâu sắc nhất, không phiến diện về sự phát triển. 1.2. Nội dung của phép biện chứng duy vật 1.2.1. Hai nguyên lý cơ bản: – Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến – Nguyên lý về sự phát triển 1.2.2. Các cặp phạm trù cơ bản: – Cái riêng – cái chung – Bản chất – hiện tượng – Tất nhiên – ngẫu nhiên – Nội dung – hình thức – Nguyên nhân – kết quả – Khả năng – hiện tượng 1.2.3. Ba quy luật cơ bản: – Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược
    lại. – Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. – Quy luật phủ định của phủ định. 5
  6. 2. MỘT TRONG HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Trên cơ sở kế thừa các giá trị về tư tưởng biện chứng trong kho tàng lý
    luận của nhân loại, đồng thời khái quát những thành tựu mới nhất của khoa
    học tự nhiên thế kỷ XIX (khoa học về các quá trình, về nguồn gốc, về mối
    liên hệ và sự phát triển) phép biện chứng duy vật đã phát hiện ra nguyên lý về
    mối liên hệ phổ biến của các sự vật và hiện tượng trong thế giới, coi đây là
    đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật. 2.1. Khái niệm: – Liên hệ: Là sự quy định lẫn nhau , tác động lẫn nhau giữa các yếu tố
    trong cùng một sự vật hoặc giữa các sự vật hiện tượng của nhau. – Liên hệ phổ biến: Là những mối liên hệ tồn tại một cách phổ biến cả
    trong tự nhiên xã hội và tư duy. Mối liên hệ phổ biến mang tính chất bao quát,
    nó tồn tại thông qua những mối liên hệ đặc thù của sự vật, nó phản ánh tính đa
    dạng và tính thống nhất của thế giới. 2.2. Nội dung nguyên lý: – Triết học Mác khẳng định mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều nằm
    trong mối liên hệ phổ biến, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách
    biệt lập mà chúng tác động đến nhau ràng buộc quyết định và chuyển hoá lẫn
    nhau. Các mối liên hệ trong tính tổng thể của nó quy định sự tồn tại vận động,
    biến đổi của sự vật. Khi các mối liên hệ thay đổi tất yếu sẽ dẫn đến sự thay
    đổi sự vật. 2.3. Ý nghĩa của nguyên lý 2.3.1. Cơ sở khoa học của quan điểm toàn diện: – Trong nhận thức và hoạt động phải xem xét sự vật trong tính toàn vẹn
    của nhiều mối liên hệ, nhiều mặt, nhiều yếu tố vốn có của nó kể cả các quá
    trình, các giai đoạn phát triển của sự vật cả trong quá khứ hiện tại và tương
    lai. Có như vậy mới nắm được thực chất của sự vật. Khi tuân thủ nguyên tắc
    này chủ thể tránh được sai lầm cực đoan phiến diện một chiều. 6
  7. – Không được đồng nhất và san bằng vai trò của các mối liên hệ của các
    mặt sự vật. Phải phản ánh đúng vai trò của từng mặt, từng mối liên hệ. Phải
    rút ra được những mối liên hệ bản chất nhất chủ yếu của sự vật khi tuân thủ
    nguyên tắc này con người sẽ tránh được sai lầm nguỵ biện và chiết trung. 2.3.2. Cơ sở khoa học của quan điểm lịch sử cụ thể – Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất tồn tại vận động phát triển
    bao giờ cũng diễn ra trong những hoàn cảnh cụ thể, trong không gian và thời
    gian xác định. – Điều kiện: Không gian và thời gian có ảnh hưởng tới đặc điểm tính
    chất sự vật. Cùng là một sự vật nhưng ở trong những điều kiện hoàn cảnh
    khác nhau sẽ có những tính chất khác nhau. Yêu cầu: Khi nghiên cứu xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó trong hoàn cảnh
    cụ thể, trong không gian thời gian xác định mà nó đang tồn tại vận động và
    phát triển đồng thời phải phân tích vạch ra ảnh hưởng của điều kiện hoàn
    cảnh của môi trường đối với sự tồn tại của sự vật, đối với tính chất của sự vật
    và đối với xu hướng vận động và phát triển của nó. – Khi vận dụng một lý luận nào đó vào trong thực tiễn cần phải tính đến
    điều kiện cụ thể của nơi vận dụng tránh bệnh giáo điều dập khuôn, máy móc,
    chung chung.
    3. TẠI SAO PHẢI VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
    VÀO PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP
    TỰ CHỦ VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. Sau khi nghiên cứu kỹ phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biên
    ta dễ ràng nhận ra rằng sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ mật thiết với
    nhau chuyển hoá lẫn nhau hay nói cách khác mọi sự vật hiện tượng tồn tại
    phải có mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác chứ không thể tồn tại một
    cách tách biệt độc lập. Sở dĩ các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau là
    vì chúng là biểu hiện của vật chất vận động. Có nguồn gốc chung từ vật động
    mà khi sự vận động có nghĩa là có mối liên hệ và các mối liên hệ của sự vật
    là cái khát quan vốn có của sự vật. Chính vì vậy khi xem xét việc xây dựng 7
  8. nền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta không thể tách rời khỏi việc hội nhập kinh
    tế quốc tế và ngược lại. Hơn nữa theo quan điểm toàn diện khi xem xét một
    sự việc hiện tượng mà cụ thể ở đây việc xây dựng độc lập tự chủ chúng ta
    phải xem xét nó trong tính toàn vẹn của nhiều mối liên hệ khác nhau, nhiều
    mặt khác nhau mà cụ thể đây là ảnh hưởng của việc xây dựng nền kinh tế độc
    lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế và ngược lại. Có như vậy chúng ta mới
    nắm được thực chất của sự vật mới tránh được những sai lầm cực đoan phiến
    diện một chiều. Đặc biệt đây lại là những vấn đề rất cấp bách đặt ra đối với
    chúng ta khi tham gia quá trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá. Chỉ có thể dựa trên
    nguyên lý mối liên hệ phổ biến mới có thể giúp chúng ta nhìn sâu hơn, hiểu
    sâu hơn về vấn đề mà mình đang nghiên cứu. Hơn nữa cũng theo quan điểm
    lịch sử cụ thể khi xem xét một sự vật hiện tượng nào đó ta phải đặt nó trong
    hoàn cảnh cụ thể không gian cụ thể. Vấn đề chúng ta đang nghiên cứu ở đây
    cần được đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, tình hình kinh tế nước ta
    hiện nay để thấy rõ hơn được ảnh hưởng của tình hình thế giới, tình hình
    trong khu vực, tình hình trong nước đối với việc xây dựng nền kinh tế độc lập
    tự chủ kết hợp với hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy dựa trên nguyên lý
    về mối liên hệ phổ biến sẽ giúp chúng ta có một cách nhìn cặn kẽ hơn, tổng
    quát hơn. Chẳng hạn liệu hội nhập kinh tế quốc tế có phải là một xu thế tất
    yếu không, hội nhập có phải là hoà tan hay không, xây dựng nền kinh tế độc
    lập tự chủ như thế nào cho phù hợp với tình hình hiện nay, phù hợp với quá
    trình hội nhập kinh tế quốc tế… Tất cả những vấn đề đó chỉ có thể giải đáp
    khi chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề chúng ta đang nghiên cứu dựa trên nguyên
    lý về mối liên hệ phổ biến. Từ đó ta có thể thấy rõ hơn tâm quan trọng của
    phép biện chứng mối liên hệ phổ biến. Ở chương II, chương III chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu rõ hơn, cặn kẽ hơn
    về mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế
    quốc tế trên cơ sở phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến. 8
  9. CHƯƠNG II XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC 1. XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ Có ý kiến cho rằng, trong điều kiện “toàn cầu hóa” nền kinh tế, mở cửa
    hội nhập mà lại đặt vấn đề xây dựng kinh tế độc lập tự chủ là thiếu nhạy bén,
    không thức thời, thậm chí là bảo thủ, tư duy kiểu cũ. Thế giới bây giờ là một
    thị trường thống nhất, cần thứ gỡ thỡ mua, thiếu tiền thỡ đi vay, sao lại chủ
    trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ (?!) Nói như vậy mới nghe qua thỡ thấy cú vẻ cú lý, nhưng nếu suy ngẫm kỹ
    thỡ thấy khụng cú cơ sở khoa học, vỡ nú quỏ ư giản đơn và phiến diện. Chúng
    ta biết rằng, độc lập tự chủ là một xu thế phát triển của thế giới. Trong điều
    kiện “toàn cầu hóa”, liên doanh, liên kết rất đa dạng và phức tạp như hiện nay
    lại càng phải giữ vững tính độc lập tự chủ. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm,
    đường lối chính trị độc lập tự chủ mà cũn là đũi hỏi của thực tiễn, nhằm bảo
    đảm độc lập tự chủ vững chắc về chính trị, bảo đảm phát triển bền vững và có
    hiệu quả cho chính ngay nền kinh tế, cho việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc
    tế. Khi đó cú độc lập tự chủ về chớnh trị thỡ nội dung cơ bản của độc lập tự
    chủ của một quốc gia là có xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ hay
    không. Đây là kinh nghiệm của nước ta và cũng là kinh nghiệm của nhiều
    nước trong khu vực và trên thế giới. Vả chăng, nước ta phát triển kinh tế để đi
    lên chủ nghĩa xó hội, bối cảnh quốc tế cú nhiều diễn biến phức tạp, cỏc lực
    lượng chống đối chủ nghĩa xó hội thường xuyên tỡm cỏch ngăn cản và chống
    phá sự nghiệp xây dựng chế độ xó hội chủ nghĩa ở nước ta. Nếu không xây
    dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ thỡ dễ bị lệ thuộc, bị cỏc thế lực xấu, thự
    địch lợi dụng vấn đề kinh tế để lôi kéo, hoặc khống chế, ép buộc chúng ta
    thay đổi chế độ chính trị, đi chệch quỹ đạo của chủ nghĩa xó hội. Núi cỏch
    khỏc, cú xõy dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thỡ mới tạo được cơ sở 9
  10. kinh tế, cơ sở vật chất – kỹ thuật của chế độ chính trị độc lập tự chủ. Độc lập
    tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất để bảo đảm cho sự độc lập tự chủ bền
    vững về chính trị. Không thể có độc lập tự chủ về chính trị nếu bị lệ thuộc về
    kinh tế. Độc lập tự chủ về kinh tế được đặt trong mối quan hệ biện chứng với
    độc lập tự chủ về các mặt khác sẽ tạo ra sự độc lập tự chủ và sức mạnh tổng
    hợp của một quốc gia. 1.1. Thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ ? Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc
    vào nước khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường
    lối, chính sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài
    chính, thương mại, viện trợ… để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền
    quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc. Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của thị
    trường, trước sự khủng hoảng kinh tế tài chính ở bên ngoài, nó vẫn có khả
    năng cơ bản duy trỡ sự ổn định và phát triển; trước sự bao vây, cô lập và
    chống phá của các thế lực thù địch, nó vẫn có khả năng đứng vững, không bị
    sụp đổ, không bị rối loạn. Bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là bảo đảm vững chắc
    định hướng xó hội chủ nghĩa và giỏ trị truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc
    trong công cuộc phát triển kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
    đất nước. Không phải chờ đến khi có trỡnh độ phát triển cao mới đặt vấn đề
    giữ vững độc lập tự chủ, mà ngay từ đầu, ngay bây giờ đó phải bảo đảm yêu
    cầu cơ bản về độc lập tự chủ, trước hết là về đường lối chính trị, các nguyên
    tắc cơ bản về phát triển kinh tế. Đương nhiên, xây dựng kinh tế độc lập tự chủ
    là một quá trỡnh lõu dài, đi từ thấp đến cao, ngày càng hoàn chỉnh, ngày càng
    bền vững. Trong thời đại ngày nay, nói độc lập tự chủ về kinh tế không ai hiểu đó
    là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà đặt trong mối quan hệ biện
    chứng với mở cửa, hội nhập, chủ động tham gia sự giao lưu, hợp tác và cạnh
    tranh quốc tế trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh của quốc 10
  11. gia, từng bước xây dựng một cơ cấu sản xuất đáp ứng được cơ bản nhu cầu
    thiết yếu về đời sống của nhân dân và có khả năng trang bị lại ở mức cần thiết
    cho nhu cầu phát triển kinh tế, củng cố quốc phũng – an ninh. 1.2. Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay Trước hết phải kể đến mức tăng trởng cao. Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) trong thời kỳ 1991-2000 đã tăng bình
    quân hàng năm là 7,4%, theo đó tổng giá trị GDP đạt gấp đôi năm 1990, GDP
    theo đầu ngời tăng 1,8 lần. Nông nghiệp đạt tốc độ tăng trởng khá và toàn diện trên nhiều lĩnh vực.
    Giá trị sản lợng toàn ngành tăng bình quân hàng năm 5,6%. Trong đó nông
    nghiệp tăng 5,4%, thuỷ sản tăng 9,1%, lâm nghiệp tăng 2,1%. Nổi bật nhất là sản 1ợng lơng thực tăng bình quân mỗi năm 1,1 triệu tấn.
    Sản lợng lơng thực năm 2000 đạt 34 triệu tấn, đa mức lơng thực bình quân
    đầu ngời từ 294,9 kg năm 1990 lên trên 436 kg năm 2000. Việt Nam từ nớc
    nhập khẩu lơng thực hàng năm, trở thành nớc xuất khẩu gạo thứ hai thế giới. Sản lợng của một số cây công nghiệp trong thời kỳ 1999-2000 đã tăng
    khá cao: cà phê tăng 4,7 lần, cao su 4,5 lần, chè tăng 2 lần, mía tăng 3 lần,
    bông tăng 9,7 lần. Sản lợng thuỷ sản tăng bình quân trong 10 năm là 8,85%: Giá trị sản l-
    ợng công nghiệp tăng bình quân trong 10 năm qua là khoảng 12,8 –
    13%/năm Công nghiệp chế biến đã có tốc dộ tăng trởng khá và đã chiếm tới 60,6%
    giá trị toàn ngành công nghiệp năm 1999. Dầu khí có tốc độ tăng trởng cao nhất trong toàn ngành công nghiệp. Sản
    lợng dầu thô năm 2000 đã tăng gấp 6 lần so với năm 1990. Sản lợng điện phát ra năm 2000 so với năm 1990 đã tăng gấp 3 lần, sản
    lợng thép cán gấp 16 lần, xi măng gấp 5,3 lần, phân hoá học 4,2 lần, giầy dép
    da 14,9 lần, giầy vải 4,9 lần, bột giặt 4,6 lần, đờng 3,6 lần, bia 7,3 lần… Giá trị sản phẩm công nghiệp xuất khẩu tăng trung bình hàng năm là
    20%. 11
  12. Các ngành dịch vụ đã tăng trởng nổi bật trong các ngành thơng mại, du
    lịch, bu chính viễn thông. Giá trị hàng hóa bán ra trên thị trờng trong nớc năm 1999 đã gấp 11,3 lần
    năm 1990. Khách du lịch quốc tế từ 1992 đến 1997 đã tăng bình quân hàng năm là
    26,5%. Mật độ điện thoại năm 1999 đã tăng 13,8 so với năm 1991 và là nớc
    có tốc độ phát triển viễn thông đứng thứ hai thế giới. Vận chuyển hàng hoá tăng bình quân trong 10 năm qua là 9,2%, vận
    chuyển hành khách – 14,25%. Hoạt động xuất khẩu cũng có mức tăng trởng nổi bật. Tổng kim ngạch
    xuất khẩu 10 năm qua đã tăng bình quân hàng năm 18,2%, tăng gấp 5,3 lần so
    với năm 1990. Tốc độ tăng trởng giá trị nhập khẩu bình quân hàng năm 10
    năm qua là 17,5%. Tổng giá trị xuất nhập khẩu năm 2000 đã tơng đơng tổng
    GDP. Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) đã tăng rất đáng kể. Tính đến quý I
    năm 1999 đã có 2624 dự án đợc cấp giấy phép đầu t với tổng vốn đăng ký là
    35,8 tỷ USD, nếu tính cả vốn bổ sung là 40,3 tỷ USD. Trong 10 năm qua, vốn
    FDI đã chiếm khoảng 28% tổng vốn đầu t toàn xã hội. Thứ hai, cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến tích cực. Tỷ trọng
    nông, lâm, ng nghiệp trong GDP đã giảm từ 38,7% năm 1990 xuống còn
    25,4% năm 1999; công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 22,6% lên 34,9%; dịch
    vụ từ 35,7 lên 40,1%. Trong nông nghiệp, cơ cấu cây trồng và vật nuôi đợc dịch chuyển theo h-
    ớng tăng tỷ trọng một số cây công nghiệp và ăn quả có tiềm năng xuất khẩu
    và sức cạnh tranh quốc tế nh cà phê, điều, chè, tiêu, rau quả, cao su…, tốc độ
    phát triển chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt. Trong công nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
    cao đã đợc xây đựng, nhiều ngành công nghiệp mới đã đợc hình thành nh ô
    tô, xe gắn máy, điện tử… 12
  13. Các ngành dịch vụ phát triển, đặc biệt là ngành bu chính viễn thông, du
    lịch, thơng mại… đã nâng đợc tỷ trọng lên trên 40% GDP. Cơ cấu vùng kinh tế đã thay đòi theo hớng tập trung phát triển ba vùng
    trọng điểm – Hồ Chí Minh – Vũng Tàu, Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Đà
    Nẵng – Quảng Ngãi, đồng thời đã dành sự quan tâm cần thiết tới những miền
    núi, vùng xa, vùng sâu, những xã nghèo. Cơ cấu vốn đầu t phát triển đã chuyển từ u tiên phát triển công nghiệp
    nặng sang u tiên nhiều hơn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển
    kết cấu hạ tầng, các ngành xuất khẩu, các lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội. Trong thời kỳ 1991-2000, vốn đầu t cho nông nghiệp và nông thôn tăng
    bình quân hàng năm là 22,9%, vốn đầu t phát triển cho kết cấu hạ tầng giao
    thông vận tải, thông tin liên lạc đã tăng bình quân hàng năm là 24,5%, vốn
    đầu t phát triển cho các ngành công nghiệp tăng bình quân hàng lăm là 27,1%,
    vốn đầu t cho lĩnh vực khoa học công nghệ giáo dục, đào tạo, y tế và văn hoá
    đã tăng bình quân hàng năm là 23,6%. Thứ ba, các vấn đề xã hội bức xúc đã có những chuyển biến tích cực. Mức sống của dân c cả thành thị và nông thôn nhìn chung đã đợc cải
    thiện một bớc rõ rệt thể hiện trên các mặt: GDP theo đầu ngời: trong 10 năm
    qua đã tăng 1,8 lần thu nhập bình quân mỗi ngời 1 tháng đã tăng 3,2 lần. Số
    học sinh đi học các cấp học khác nhau từ tiểu học đến đại học đã tăng khoảng
    2,3 – 4,3 lần trong 10 năm qua; chỉ số HDI đã đợc nâng lên từ thứ 122/174 n-
    ớc năm 1995 lên 110/174 nớc năm 1999. Tỷ lệ tăng dân số năm 1988 là 2,28% đã giảm xuống còn 1,53% năm
    2000; năm 1998 Việt Nam đã đợc Liên hợp quốc tặng giải thởng về công tác
    dân số. Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân đã có nhiều tiến bộ. Năm
    1990 tỷ lệ trẻ dới 5 tuổi bị suy dinh dỡng là hơn 50% tỷ lệ chết của trẻ em dới
    1 tuổi là 46%, dới 5 tuổi là 69,5%, tuổi thọ trung bình là 64, chiều cao trung
    bình của thanh niên là 1,6m. Đến năm 1998 các chỉ tiêu tơng ứng trên đây đã
    đợc cải thiện rõ rệt: 38,9%; 39%, 48,5%, 68 tuổi; 1,62m. 13
  14. Số hộ đói nghèo đã giảm rõ rệt từ 30,0% năm 1992 xuống còn 10,6%
    năm 2000http://www.cpv.org.vn/nghiencuu/daihoi9/ – 2. Đến cuối năm 1998
    cả nớc đã có 15 tỉnh thành phố có tỷ lệ hộ đói nghèo dới 10%; 21 tỉnh có tỷ lệ
    đói nghèo khoảng 11 – 19%. 1.3. Khó khăn và thử thách khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Cơ bản nền kinh tế Việt Nam hiện nay lạc hậu về khoa học kỹ thuật
    nhiều chục năm so với các nước công nghiệp phát triển. Sản xuất, xuất khẩu
    của ta chủ yếu gồm các nông khoáng sản thô và các mặt hàng công nghiệp thứ
    cấp, khi sản xuất phải nhập khẩu máy và vật tư phụ tùng, nông nghiệp lệ
    thuộc vào phân bón, xăng dầu, thuốc sâu, nông cơ; công nghiệp lệ thuộc vào
    máy vật tư, linh kiện rời. Các nông khoáng sản thô như gạo, cao su, cà phê,
    hàng thuỷ sản, than đá – dầu thô, và các mặt hàng thứ cấp khác: hàng may
    mặc và giầy dép là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Việt Nam vấp phải sự
    cạnh tranh rất mạnh của các nước kém mở mang khác, các hạn định quota
    nhập khẩu của nước ngoài, giá cả bấp bênh và có khuynh hướng giảm, thị
    trường hạn chế. Trong nhiều năm, gạo, cà phê, cao su, hàng may mặc của
    Việt Nam không xuất khẩu được hết trên thị trường thế giới, khiến cho giá sụt
    và làm giảm thu nhập của công nhân, nông dân trong các ngành liên quan.
    Trong khi đó, nhập khẩu lại hướng về máy, các vật tư, linh kiện rời giá đắt và
    các hàng tiêu dùng cao cấp giá rất đắt. Tình hình này làm cho vị thế của ta trên thị trường quốc tế yếu đi và dẫn
    đến nhiều nguy cơ lớn về kinh tế tài chính. Thứ nhất là nguy cơ bán rẻ như cho và mua phải trả giá cao, tỷ lệ giao
    hoán bất lợi, xuất phát từ việc xuất khẩu nông khoáng sản thô giá rẻ và nhập
    khẩu hàng cao cấp giá cao. Sự thiệt thòi triền miên năm này qua năm khác
    mỗi năm ước hàng nhiều tỷ USD khiến cho nước ta nghèo càng nghèo thêm. Thứ hai là nguy cơ siêu đưa đến thâm thủng cán cân thương mại buộc
    phải vay tiền nước ngoài. Trong các năm 1995 dến 95 chúng ta nhập siêu trên
    dưới 3 tỷ USD, nợ quốc tế tăng khoảng 2-3 tỷ USD/năm để trám vào thâm
    thủng của cán cân thương mại và các chi phí khác về ngoại tệ. 14
  15. Thứ ba là nợ quốc tế tăng gia với tốc độ nhanh hàng năm đưa đến tình
    hình nợ đáo hạn và vốn lời phải trả mỗi năm mỗi tăng. Muốn trả nợ quốc tế,
    chỉ có 2 phương pháp: (a) xuất siêu để có dư cân thương mại để trả nợ, (b)
    hoặc vay nợ mới để có ngoại tệ trả nợ cũ. Trong thập niên 90, chúng ta không
    có xuất siêu vậy phải áp dụng biện pháp vay nợ mới trả nợ cũ, cả vốn lẫn lãi,
    khiến cho nợ quốc tế tăng gia nhanh theo định luật lãi kép. Nợ quốc tế, nếu
    ước hơn 15 tỷ USD thì bằng đến khoảng 50% GDP của nước ta, ước khoảng
    30 tỷ USD. Nợ quốc tế tăng, đến một mức nào đó, có thể dẫn đến tình hình khủng
    hoảng tài chính – tiền tệ như đã xảy ra tại Thái Lan. Khi ấy, cơ quan tiền tệ
    quốc tế đã đề nghị với Thái Lan những biện pháp “trọn gói” trong đó có nhiều
    biện pháp mà Thái Lan cho rằng vi phạm nền độc lập tự chủ kinh tế quốc gia,
    nhưng sau đó chính phủ Thái Lan đã buộc phải nhận. Tình hình nợ quốc tế
    của nước ta so với Thái Lan ít hơn nhiều, nhưng bài học Thái Lan cho thấy là
    nợ quốc tế tăng có thể đưa đến việc ngân hàng trung ương không còn khả
    năng thanh toán quốc tế, đặc biệt là các trang trải nhập khẩu thông thường và
    lúc bấy giờ sẽ xảy ra khủng hoảng tài chính, tiền tệ. Thứ tư: hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tranh thủ kỹ thuật, khoa học,
    vốn quốc tế. Tuy nhiên các công ty nước ngoài chỉ đầu tư ở Việt Nam nếu họ
    có lợi. Như vậy, chúng ta ở trong thế yếu, chỉ có khả năng hạn chế họ bớt lợi
    mà thôi, nhưng nếu đầu tư mà chỉ thu được lợi ít, họ sẽ ngưng hay giới hạn
    lượng đầu tư. Kinh nghiệm chó thấy, trong thập niên 90, những thiết bị được
    đầu tư ở Việt Nam, thường là những thiết bị cũ, thị phần các doanh nghiệp
    Việt Nam giảm nhanh trong khi thị phần các công ty có vốn nước ngoài tăng
    nhanh, nhiều công ty phía Việt Nam có phần hùn khoảng 30% nhờ phần đóng
    góp mặt bằng, nhà đất đã chuyển thành công ty có vốn nước ngoài 100%do
    nhiều lý do, trong số có lý do phía nước ngoài đề nghị tăng vốn nhưng bên
    Việt Nam không có khả năng đáp ưúng. Nếu tình hình này tiếp tục, người
    nước ngoài sẽ làm chủ dần dần hầu hết các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam, khi
    ấy, sẽ khó giữ được độc lập tự chủ kinh tế quốc gia. 15
  16. Sự phối hợp 4 nguy cơ trên có khả năng đưa đến tình hình mất độc lập tự
    chủ kinh tế, tài chính, tiền tệ, gây ra tình cảnh lệ thuộc vào nước ngoài. Đồng
    chí TBT đã xác định là độc lập tự chủ kinh tế là nền tảng cơ bản bảo đảm sự
    bền vững của độc lập tự chủ về chính trị, do đó cần phải có biện pháp xây
    dựng nền kinh tế tự chủ và chủ động trong việc hội nhập vào kinh tế quốc tế. 16
  17. 2. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 2.1. Thế nào hội nhập kinh tế quốc tế: Ngày nay hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi châu lục, chi
    phối đời sống kinh tế mọi quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế là hiện tượng
    xảy ra trong quan hệ giữa các quốc gia. Cách hiểu phổ biến nhất hiện nay về
    hội nhập kinh tế là xoá bỏ sự khác biệt kinh tế giữa những nền kinh tế thuộc
    các quốc gia khác nhau. 2.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan tới chủ trương hội nhập
    kinh tế quốc tế ở nước ta: Đại hội lần thứ VIII của Đảng đó xỏc định nhiệm vụ “mở rộng quan hệ
    kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố
    và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế”. Đại hội lần thứ IX khẳng định
    chủ trương “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài
    và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền
    vững”. Chủ trương hội nhập được đề ra trong bối cảnh tỡnh hỡnh thế giới và
    khu vực diễn biến nhanh chúng, phức tạp, khú lường trước về chính trị, kinh
    tế, văn hóa, xó hội và khoa học – kỹ thuật, với những đặc điểm nổi bật sau : 2.2.1. Trong hơn một thập kỷ qua, kinh tế thế giới nhỡn chung phỏt triển
    khụng ổn định và không đồng đều, về tốc độ thấp hơn thập kỷ trước (trên
    2%/năm so với 3,2%) ; đó xảy ra mấy cuộc khủng hoảng lớn, sõu rộng hơn cả
    là cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính nổ ra năm 1997 ; vị trí các nước và
    các khu vực thay đổi theo hướng : kinh tế Mỹ phát triển nhanh và ổn định liên
    tục trong nhiều năm và đến 2002 bắt đầu suy giảm ; kinh tế Tây Âu hiện
    không cũn phỏt triển nhanh như các thập kỷ trước ; kinh tế Nhật suy thoái
    chưa có lối ra ; các nước thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu rơi vào tỡnh
    trạng suy thoỏi trầm trọng và kộo dài ; vài năm gần đây đó tăng trưởng tương
    đối khá ; trong khi đó kinh tế Trung Quốc phát triển “ngoạn mục” ; Đông Á
    và Đông – Nam Á phát triển nhanh vào bậc nhất thế giới trong những thập kỷ
    trước, vừa qua đó rơi vào suy thoái và nay đang hồi phục ; Nam Á và nhất là 17
  18. châu Phi vẫn chưa thoát khỏi tỡnh trạng trỡ trệ kộo dài ; kinh tế Mỹ La-tinh
    cú khỏ hơn song cũng không ổn định.
    “Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với tốc độ ngày càng
    cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trỡnh chuyển dịch
    cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xó hội”. Dưới tác
    động của những chiều hướng đó, kinh tế thế giới trải qua những biến đổi về
    chất, các ngành công nghệ cao, đặc biệt là những lĩnh vực có hàm lượng chất
    xám cao, nhất là công nghệ thông tin và sinh học phát triển nhanh chóng làm
    thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, tiêu dùng, trao đổi… cũng như phương thức
    làm ăn và cả sinh hoạt, giao lưu. 2.2.2. Xu thế toàn cầu húa và khu vực húa phỏt triển ngày càng nhanh Vũng đàm phán U-ru-goay kết thúc, Hiệp định Ma-ra-két được ký kết,
    Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời từ 01- 01-1995 thu hút tới 136 và
    nay là 144 quốc gia và lónh thổ, chiếm gần 100% kim ngạch buụn bỏn quốc
    tế, theo hướng giảm mạnh hàng rào quan thuế và phi quan thuế, mở cửa thị
    trường hàng hóa, đầu tư, dịch vụ … Bên cạnh sự ra đời của WTO, xuất hiện
    rất nhiều tổ chức tiểu vùng, khu vực, liên khu vực như các tam, tứ giác phát
    triển, các khu vực mậu dịch tự do (AFTA, NAFTA), những tổ chức liên kết
    toàn châu lục (EU) hoặc giữa các châu lục (APEC). Các nước lớn, nhỏ đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, theo đuổi
    chính sách kinh tế mở. Ngay những nước có tiềm năng và thị trường rộng lớn
    như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ… và cả một số nước vốn “khép kín”, theo
    mô hỡnh tự cung tự cấp cũng dần dần mở cửa, từng bước hội nhập vào nền
    kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu : suy
    thoái môi trường, bùng nổ dân số, nghèo đói, các bệnh tật hiểm nghèo, các
    vấn đề xó hội “xuyờn quốc gia”…, khụng một quốc gia riờng lẻ nào cú thể giải
    quyết được mà cần phải có sự hợp tác đa phương. Tỡnh hỡnh trờn làm nảy sinh và thỳc đẩy xu thế hội nhập để phát triển.
    Trong xu thế chung đó, các nước công nghiệp phát triển, trước hết là Mỹ, do 18
  19. có ưu thế về thị trường, nắm được tiến bộ khoa học – công nghệ, có nền kinh
    tế phát triển cao, đó ra sức thao tỳng, chi phối thị trường thế giới, áp đặt điều
    kiện đối với các nước chậm phát triển hơn, thậm chí dùng những biện pháp
    thô bạo như bao vây, cấm vận, trừng phạt, làm thiệt hại lợi ích của các nước
    đang phát triển và chậm phát triển. Trước tỡnh hỡnh đó, các nước đang phát
    triển đó từng bước tập hợp nhau lại, đấu tranh chống chính sách cường quyền
    áp đặt của Mỹ để bảo vệ lợi ích của mỡnh vỡ một trật tự kinh tế quốc tế bỡnh
    đẳng, công bằng. Điều đó chứng tỏ xu thế hội nhập phản ánh cục diện vừa
    đẩy mạnh hợp tác, vừa đấu tranh khốc liệt. 2.2.3. Ở khu vực Đông-Nam Á đó diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc. Sau nhiều thập kỷ chiến tranh, đối đầu, Đông-Nam Á đó cú hũa bỡnh,
    tuy cũn tiềm ẩn một số nhõn tố cú thể gõy bất ổn định, xu thế hợp tác để phát
    triển không ngừng gia tăng. Mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế – tài
    chính trầm trọng thời gian 1997-1998, song đây vẫn là khu vực có nhiều tiềm
    năng do vị trí địa – chính trị và địa – kinh tế của mỡnh, dung lượng thị trường
    lớn, tài nguyên phong phú, lao động dồi dào, được đào tạo tốt, có quan hệ
    quốc tế rộng rói. Toàn bộ tỡnh hỡnh trờn đem lại nhiều thuận lợi to lớn, đồng thời cũng
    đặt ra nhiều thách thức gay gắt đối với nước ta trong quá trỡnh phỏt triển đất
    nước nói chung và quá trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế núi riờng. 2.3. Những kết quả đạt được khi Việt Nam tham gia quá trình hội
    nhập kinh tế quốc tế Quỏ trỡnh hội nhập với nền kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại
    thời gian qua đó mang lại cho chỳng ta những kết quả quan trọng : 2.3.1. Chúng ta đó làm thất bại chính sách bao vây cấm vận, cô lập nước
    ta của các thế lực thù địch, tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận
    lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế nước ta trên
    chính trường và thương trường thế giới. 19
  20. 2.3.2. Khụng những chỳng ta đó khắc phục được tỡnh trạng khủng
    hoảng thị trường do Liên Xô và hệ thống xó hội chủ nghĩa thế giới tan ró gõy
    nờn, mà cũn mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu. Trong quỏ trỡnh hội nhập, chỳng ta đó nhanh chúng mở rộng xuất nhập
    khẩu, thỳc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo thêm việc làm, tăng thu
    ngân sách. Nếu năm 1990 kim ngạch xuất khẩu mới đạt 2,404 tỷ USD và
    nhập khẩu 2,752 tỷ USD thỡ năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đó đạt 15,1 tỷ
    USD (nếu tính cả dịch vụ thỡ đạt 17,6 tỷ USD, tăng trung bỡnh trên 20% mỗi
    năm, có năm tăng 30% ; riêng năm 2001 do ảnh hưởng của tỡnh hỡnh kinh tế
    khú khăn trên thế giới và ở khu vực và giá cả các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
    giảm mạnh, nên xuất khẩu chỉ tăng gần 5%. 2.3.3. Thu hút được một nguồn lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
    (FDI), bổ sung cho nguồn vốn trong nước, kết hợp nội lực với ngoại lực, tạo
    được những thành tựu kinh tế to lớn, quan trọng. Tháng 12-1987, chúng ta đó ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
    Từ đó đến nay đó thu hỳt được trên 42 tỷ USD vốn đầu tư, với trên 3 000 dự
    án, đó thực hiện khoảng 21 tỷ USD trong số đó. Nguồn đầu tư trực tiếp của
    nước ngoài giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta : gần 30% vốn
    đầu tư xó hội, 35% giỏ trị sản xuất cụng nghiệp, 20% xuất khẩu, giải quyết
    việc làm cho khoảng 40 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động
    gián tiếp. 2.3.4. Tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày
    càng lớn, đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài. Từ năm 1993, hằng năm đều có hội nghị các nhà tài trợ cho nước ta gồm
    một số nước và một số định chế tài chính – tiền tệ quốc tế. Cho đến nay, các
    nhà tài trợ đó cam kết dành cho nước ta gần 20 tỷ USD, chủ yếu là cho vay ưu
    đói với lói suất từ 0,75% đến 2,5% tùy theo mỗi đối tác ; một phần là viện trợ
    không hoàn lại. 2.3.5. Tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào
    tạo một đội ngũ cán bộ quản lý và cỏn bộ kinh doanh năng động, sáng tạo. 20

Page 2

YOMEDIA

Tiểu luận Triết học “Phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biến” có kết cấu nội dung các chương như sau: Chương 1 – phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biến; chương 2 – xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế, thời cơ và thách thức; chương 3 – những giải pháp và kiến nghị. Hy vọng bài tiểu luận này sẽ đem lại những kiến thức bổ ích cho các bạn.

21-12-2009 1668 314

Download

Tieu luan triet hoc ve moi lien he pho bien

Giấy phép Mạng Xã Hội số: 670/GP-BTTTT cấp ngày 30/11/2015 Copyright © 2009-2019 TaiLieu.VN. All rights reserved.

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.