Nhân đình nào sau đây là đặc điểm của nhà nước Âu Lạc

(ADMM) – Trong tiến trình phát triển lịch sử, Việt Nam nằm ở một trong những khu vực được coi là cái nôi của loài người và cũng được coi là một trong những trung tâm phát sinh nông nghiệp sớm với nền văn minh lúa nước, nơi đã từng trải qua các cuộc cách mạng đá mới và cách mạng luyện kim. Trên nền tảng phát triển kinh tế – xã hội thời Đông Sơn, trước những đòi hỏi của công cuộc trị thủy và chống xâm lăng, Nhà nước Văn Lang – Nhà nước đầu tiên – đã ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII trước Công nguyên. Bằng sức lao động cần cù sáng tạo, cư dân Văn Lang (sau đó là Âu Lạc) đã tạo dựng nên một nền văn minh tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á. Đi cùng với Nhà nước đầu tiên của lịch sử Việt Nam là một nền kinh tế phong phú, một nền văn hóa cao mà mọi người biết đến với tên gọi là văn minh Sông Hồng (còn gọi là văn minh Đông Sơn) với biểu tượng là trống đồng Đông Sơn – thể hiện sự kết tinh lối sống, truyền thống và văn hóa của người Việt cổ.

Trong quá trình dựng nước, người Việt đã phải liên tiếp đương đầu với sự xâm lăng của các thế lực bên ngoài. Độ dài thời gian và tần suất các cuộc kháng chiến, khởi nghĩa và đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam rất lớn. Kể từ cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III trước Công nguyên) đến cuối thế kỷ XX, đã có tới 12 thế kỷ Việt Nam phải tiến hành hàng trăm cuộc đấu tranh giữ nước, khởi nghĩa và đấu tranh giải phóng. Một điều đã trở thành quy luật của các cuộc đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam là phải “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”.

Từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên (kéo dài hơn 1.000 năm), Việt Nam bị các triều đại phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ. Sự tồn vong của một dân tộc bị thử thách suốt hơn nghìn năm đã sản sinh ra tinh thần bất khuất, kiên cường, bền bỉ đấu tranh bảo tồn cuộc sống, giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa, quyết giành lại độc lập cho dân tộc của người dân Việt Nam.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam – kỷ nguyên phát triển quốc gia phong kiến độc lập, thời kỷ xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Dưới các triều Ngô (938 – 965), Đinh (969 – 979), Tiền Lê (980 – 1009), nhà nước trung ương tập quyền được thiết lập.

Sau đó, Việt Nam bước vào thời kỳ phục hưng và phát triển (với quốc hiệu Đại Việt) dưới triều Lý (1009 – 1226), Trần (1226 – 1400), Hồ (1400 – 1407), Lê Sơ (1428 – 1527). Đại Việt dưới thời Lý – Trần – Lê Sơ được biết đến như một quốc gia thịnh vượng ở châu Á. Đây là một trong những thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử của Việt Nam trên mọi phương diện. Về kinh tế: nông nghiệp phát triển, thủy lợi được chú ý phát triển (đê Sông Hồng được đắp vào thời kỳ này), các làng nghề ra đời và phát triển. Về tôn giáo: tín ngưỡng dân gian, Phật giáo và Nho giáo được coi là tam giáo đồng nguyên. Một thành tựu quan trọng trong thời Lý – Trần là việc phổ biến chữ Nôm, chữ viết riêng của Việt Nam dựa trên cơ sở cải biến và Việt hóa chữ Hán. Bên cạnh đó các lĩnh vực khác như giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn học – nghệ thuật, lịch sử, luật pháp… cũng rất phát triển (Văn Miếu – Quốc Tử Giám được xây dựng, sự ra đời của Bộ luật Hồng Đức, Đại Việt Sử ký, Đại Việt Sử ký toàn thư…). Lịch sử gọi thời kỳ này là Kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Thăng Long (bây giờ là Hà Nội) cũng được chính thức công nhận là Kinh đô của Đại Việt với Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn vào năm 1010.

Từ thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam với tư tưởng nho giáo đã bộc lộ sự lạc hậu và bắt đầu suy yếu. Trong khi nhiều quốc gia – dân tộc ở châu Âu đang dần chuyển sang chủ nghĩa tư bản thì Đại Việt bị chìm trong nội chiến và chia cắt. Tuy trong các thế kỷ XVI – XVIII, nền kinh tế, văn hóa có những bước phát triển nhất định, nhiều thành thị, thương cảng ra đời đẩy nhanh quan hệ buôn bán trong và ngoài nước, nhưng cảnh chia cắt và nội chiến đã kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Bước sang đầu thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ráo riết tìm kiếm thị trường, từng bước xâm chiếm thuộc địa. Người Pháp, thông qua con đường truyền đạo, thương mại đã tiến hành thôn tính Việt Nam. Đây là lần đầu tiên dân tộc Việt Nam phải đương đầu với họa xâm lăng từ một nước công nghiệp phương Tây. Trong hoàn cảnh này, một số trí sĩ Việt Nam đã nhận thức được yêu cầu bảo vệ độc lập phải gắn liền với cải cách, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ của phương Đông. Họ đã đệ trình những đề nghị canh tân đất nước, nhưng đều bị triều Nguyễn khước từ, đẩy đất nước vào tình trạng lạc hậu, bế tắc và từ đó Việt Nam đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến trong gần 100 năm (1858 – 1945).

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 là dấu mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Tháng 8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã khởi nghĩa giành chính quyền thành công, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945.

Nước Việt Nam non trẻ vừa ra đời lại phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước kéo dài suốt 30 năm sau đó. Cuộc kháng chiến 9 năm (1945 – 1954) chống lại sự xâm lược trở lại của Pháp ở Việt Nam kết thúc bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève về Việt Nam năm 1954. Theo Hiệp định này, đất nước tạm thời bị chia làm hai vùng lãnh thổ miền Bắc và miền Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến và sẽ được thống nhất hai năm sau đó (1956) thông qua một cuộc tổng tuyển cử. Miền Bắc Việt Nam vào thời kỳ này mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động; Thủ đô là Hà Nội. Miền Nam mang tên Việt Nam Cộng hoà với sự quản lý của chính quyền thân Pháp, rồi thân Hoa Kỳ đặt tại Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn đã bằng mọi cách ngăn chặn cuộc tổng tuyển cử, đàn áp và loại bỏ những người kháng chiến cũ. Tuy nhiên, chính quyền Sài Gòn đã không thể ngăn cản được nguyện vọng thống nhất đất nước của quần chúng. Phong trào đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước đã bùng nổ mạnh mẽ. Ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.

Để duy trì chế độ Sài Gòn, Hoa Kỳ đã tăng cường viện trợ quân sự. Đặc biệt kể từ giữa thập kỷ 60, Hoa Kỳ đã gửi nửa triệu quân và đồng minh đến miền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến và bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam từ ngày 5/8/1964. Nhân dân Việt Nam, theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đã đứng vững và giành nhiều thắng lợi ở cả hai miền Nam và Bắc. Năm 1973, Washington buộc phải ký hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam và rút toàn bộ quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam. Mùa Xuân năm 1975, trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc và được sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới, các lực lượng vũ trang yêu nước Việt Nam đã thực hiện cuộc tổng tiến công đập tan chính quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 25/4/1976, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được đổi tên thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam và Bắc.  Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc.

Trong 10 năm đầu của thời kỳ sau chiến tranh, nhiều mục tiêu kinh tế – xã hội không thực hiện được do những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nền kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng, trì trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối Đổi mới với trọng tâm là đổi mới kinh tế. Đây là một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam thời kỳ mới. Đường lối Đổi mới tiếp tục được Đảng khẳng định và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội sau đó. Trong 30 năm qua, kể từ khi tiến hành Đổi mới, Việt Nam từ một nước nhập khẩu lương thực đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới (năm 2015, Việt Nam xuất khẩu gạo đứng thứ 3 thế giới, sau Ấn Độ và Thái Lan), nhiều chủng loại hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được ưa chuộng, nhiều thương hiệu hàng hóa được thế giới biết đến, kinh tế đạt tăng trưởng cao, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, chính sách xã hội được chú trọng, hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, quản lý xã hội trên cơ sở luật pháp dần đi vào nề nếp, quốc phòng, an ninh được giữ vững, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu.

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam, điểm nổi bật chiếm vị trí hàng đầu và trở thành chuẩn mực đạo lý Việt Nam là tinh thần yêu nước, ý chí tự lập, tự cường, truyền thống đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc. Cuộc sống lao động gian khổ đã tạo ra truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và kiên nhẫn; yêu cầu phải liên kết lại để đấu tranh với những khó khăn, thách thức đã tạo ra sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với nhau trong mối quan hệ gia đình, láng giềng, dòng họ của người Việt cũng như trong cộng đồng nhà – làng – nước – dân tộc. Lịch sử cũng cho con người Việt Nam truyền thống tương thân tương ái, sống có đạo lý, nhân nghĩa; khi gặp hoạn nạn thì đồng cam cộng khổ, cả nước một lòng; tính thích nghi và hội nhập; lối ứng xử mềm mỏng và truyền thống hiếu học, trọng nghĩa, khoan dung. Đây chính là sức mạnh tiềm tàng, là nội lực vô tận cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Nguồn: www.mofa.gov.vn

Sự ra đời của Nhà Nước là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của xã hội loài người. Nhà nước xuất hiện trong điều kiện là sức sản xuất phát triển đến đỉnh cao xuất hiện sự phân hóa xã hội, dẫn đến những mâu thuẫn không thể điều hòa được.

Tuy nhiên, quy luật trên không hoàn toàn đúng với tất cả các nhà nước trên thế giới. Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc là một điển hình, sự ra đời của hai nhà nước này có những đặc thù riêng, tách biệt với các nhà nước khác. Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề: “Phân tích đặc thù trong quá trình ra đời nhà nước Văn Lang – Âu Lạc” 

Danh mục tài liệu tham khảo

  • Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam.

Quy luật hình thành Nhà nước trên thế giới theo lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác.

Theo lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, có hai yếu tố dẫn đến sự hình thành nhà nước đó là: xuất hiện chế độ tư hữu và có mẫu thuẫn xã hội gay gắt đến mức không thể tự dung hòa được.

Trong lịch sử phát triển của loài người đã trải qua ba lần phân công lao động: lần phân công thứ nhất, chăn nuôi đã trở thành một ngành kinh tế độc lập và tách ra khỏi trồng trọt; lần phân công thứ hai, thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, lần phân công thứ ba; sản xuất tách bạch với trao đổi dẫn đến sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân.

Từ đây, lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao động tăng, của cải làm ra ngày càng nhiều, và dẫn đến có của cải dư thừa kèm theo đó là sự tích trữ, đồng thời xuất hiện một bộ phận chiến đoạt của cải dư thừa đó (do nắm quyền quản lý, cai quản) hoặc giàu lên nhờ tích trữ, đầu cơ từ đây đã có sự phân hóa giàu nghèo, giữa người có của và người không có của,

Sự phân hóa giàu nghèo này dẫn đến hiện tượng phân tầng xã hội, phân chia thành các tầng lớp khác nhau từ đó dẫn đến phân chia giai cấp đồng thời và kéo theo xuất hiện mâu thuẫn giai cấp và điều không tránh khỏi là đấu tranh giai cấp, lúc này nhà nước đã có tiền đề rõ ràng cho sự ra đời của mình.

Phân tích đặc thù trong quá trình ra đời nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

Lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến sự ra đời chế độ tư hữu và từ đó xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hoà được xuất hiện. Điều đó dẫn đến nguy cơ các giai cấp chẳng những tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn cả xã hội, tạo ra một tình trạng loạn lạc hỗn độn.

Xã hội lúc này đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy, hoặc cùng lắm là để làm cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp và để thảm hoạ đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời và đó chính là nhà nước.

Và như vậy là Nhà nước đã xuất hiện một cách khách quan, nó là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, nó không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt và xã hội mà là một lực lượng nảy sinh từ xã hội, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự.

phân tích đặc thù trong quá trình ra đời nhà nước văn lang – âu lạc

Đặc thù trong quá trình ra đời của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

Đặc thù trong tiền đề ra đời

Như đã nói ở trên, nhà nước xuất hiện trên cơ sở kinh tế – xã hội là xuất hiện chế độ tư hữu và mâu thuẫn xã hội gay gắt đến mức không thể tự mình điều hòa được. Tuy nhiên, trong sự ra đời của nhà nước Văn Lang, Âu lạc thì tiền đề kinh tế – xã hội cần thiết cho nhà nước ra đời đã xuất hiện nhưng chưa thực sự chín muồi. Cụ thể:

Về cơ sở kinh tế: thời kỳ này đã có sự biến đổi từ nền kinh tế tự nhiên nguyên thủy sang nền kinh tế sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, đồng thời xuất hiện nghề trồng lúa nước, chăn nuôi, nghề gốm, cũng như sự xuất hiện của nghề luyện kim đồng thau. Việc xuất hiện các nghề trồng trọt, chăn nuôi và các công cụ lao động bằng đồng, sắt đã tạo ra năng suất lao động cao, và tạo ra của cải dư thừa cho xã hội.

Từ đây, mầm mống của chế độ tư hữu đã xuất hiện, tuy nhiên, tư liệu sản xuất chính là ruộng đất vẫn thuộc sở hữu chung của công xã nông thôn. Sở hữu tư nhân xuất hiện nhưng phát triển chậm, chủ yếu là sở hữu với sản phẩm lao đông, đất ở, cồn cụ lao động.

Về cơ sở xã hội: Những gia đình nhỏ trở thành những đơn vị kinh tế độc lập. Chế độ mẫu hệ dần dần chuyển sang chế độ phụ hệ. Công xã thị tộc dần dần tan rã và nhường chỗ cho công xã nông thôn, kết hợp cả 3 quan hệ láng giềng, địa lý và huyết thống. Xã hội có sự phân hóa rõ nét ở cả sự phân hóa giàu nghèo và sự phân hóa về địa vị xã hội nhưng chưa sâu sắc, chưa mang tính đối kháng.

Trên cơ sở kinh tế – xã hội thực sự chín muồi như vậy, nhà nước Văn Lang – Âu Lạc vẫn xuất hiện do có sự tác động của các yếu tố bên ngoài:

Thứ nhất, do sự tác động của nhu cầu trị thủy, thủy lợi. Thiên nhiên nước ta có nhiều thuận lợi đối với cuộc sống con người. Cuối thời Hùng Vương, dân cư đã tràn xuống chinh phục vùng đồng bằng châu thổ của các con sông lớn và phát triển nông nghiệp trồng lúa nước nên công cuộc trị thủy – thủy lợi đóng vai trò rất quan trọng. Chính điều này đã đặt ra nhu cầu gắn kết cộng đồng lại bởi một người hay một nhóm người không thể làm được công việc đó.

Thứ hai, do tác động của yếu tố chiến tranh. Vị trí địa lý nước ta nằm trên những luồng giao thông tự nhiên nên yếu tố tự vệ chống lại các nối đe dọa từ bên ngoài ngày càng trở nên cấp thiết. Các tư liệu khảo cổ đã ghi nhận được rằng trong giai đoạn Phùng Nguyên, tỷ lệ vú khí so với toàn tộ hiện vật rất nhỏ như ở di tích Văn Điển là 0,28%, di tích Phùng Nguyên là 0,84%.

Tuy nhiên, đến giai đoạn Đông Sơn, tỷ lệ vũ khí tăng vọt lên trên trên 50%. Như vậy, thời bấy giờ chiến tranh đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội, đòi hỏi các cộng cộng đồng, thị tộc, bộ lạc phải gắn kết với nhau để bảo vệ lợi ích chung.

Như vậy, dù cơ sở kinh tế – xã hội chưa thực sự chín muồi nhưng do các yếu tố khác thúc đẩy nên nhà nước Việt cổ đã được hình thành sớm.

Phân tích quá trình ra đời nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

Đặc thù trong con đường hình thành nhà nước

Trong chế độ công xã nguyên thủy ở nước ta lúc đầu chưa có quyền lực nhà nước, mà chỉ có quyền lực xã hội do cộng đồng giao cho một người hoặc một nhóm người để thực hiện chức năng quản lý xã hội. Ban đầu, quyền lực này được trao cho những người có uy tín trong xã hội, thứ quyền lực này xuất phát từ trong xã hội và đại diện cho lợi ích của toàn xã hội.

Người đừng đầu có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội, do đó họ cũng đồng thời được trao cho quyền lực rất lớn. Và dần dần, họ nhận ra ưu thế khi sử dụng thứ quyền lực này, vì vậy, thay vì được trao cho những người có uy tín, kinh nghiệm quản lý trong xã hội thì thứ quyền lực này đã trở thành một “thứ tài sản” đặc biệt để thừa kế cho các thế hệ tiếp sau.

Bên cạnh các biện pháp dân chủ vốn đặc trưng trong công xã nguyên thủy, các biện pháp cưỡng chế để thực hiện quyền lực của cá nhân ngày càng phổ biến, trong xu hướng đó, quá trình chuyển hướng quyền lực diễn ra và quyền lực xã hội được trao nhằm để thực hiện chức năng xã hội dần dần biến thành quyền lực nhà nước. Những người thực hiện chức năng xã hội dần biến thành quan chức, những quan chức hợp thành bộ máy nhà nước. Đối với họ, quản lý xã hội trở thành một nghề chuyên nghiệp, họ là những người tách ra khỏi xã hội và tựa hồ đứng trên xã hội.

Như vậy, quá trình chuyển hóa từ quyền lực xã hội sang quyền lực nhà nước chính là một đặc thù của sự hình thành nhà nước Văn Lang – Âu Lạc.

Đặc thù trong thiết chế nhà nước và pháp luật

Thiết chế nhà nước và pháp luật thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc được tổ chức đơn giản, sơ khai, bảo tồn nhiều yếu tố của thị tộc.

Bộ máy nhà nước Văn Lang – Âu Lạc rất đơn giản, đứng đầu là vương, giúp việc cho Vương có Lạc hầu, Lạc tường (Các bộ) và cuối cùng là Bồ chính (Công xã nông thôn).

Trong hệ thống pháp luật của thời Văn Lang – Âu Lạc, tập quan giữ vai trò chủ đạo và phổ biến nhất. Đó là những tập quán vốn có từ thời nguyên thủy và được bảo đảm thực hiện không chỉ bằng sự tự nguyện mà bằng cả sức mạnh cưỡng chế của nhà nước; là những tập quán chính trị, được hình thành trong quá trình vận máy nhà nước và điều hành xã hội như tập quán truyền ngôi cho con, tập quán cống nạp… Ngoài ra còn có pháp luật kiểu khẩu truyền, là những mệnh lệnh của vua được sứ giả truyền đi các nơi.

Sở dĩ thiết chế nhà nước và pháp luật thời kỳ này còn sơ khai đơn giản là do được xây dựng trên một cơ sở nền tảng kinh tế – xã hội chưa chín muồi, khi mà chế độ tư hữu chưa thật sự rõ ràng, mâu thuần trong xã hội cũng không đến mức quá gay gắt do đó mà thiết chế nhà nước và pháp luật cũng không cần quá chặt chẽ.

Bên cạnh đó, do được hình thành sớm nên còn bảo lưu yếu tố của thi tộc, bộ lạc, đặc biệt là của công xã nông thôn với lối sống tự quản, tự trị. Ngoài ra do thời gian tồn tại ngắn nên cũng khó có thể hoàn thiện được bộ máy nhà nước và pháp luật một cách tối ưu.

Những ảnh hưởng của các đặc thù trên ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử của nhà nước Việt Nam

Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc là thời kỳ dựng nước của dân tộc ta, đặt nền móng để từ đây viết nên nhiều trang sử chói lọi. Chính vì vậy, các di tồn của thời kỳ này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng nhà nước và pháp luật Việt Nam trong tiến trình lịch sử:

Thứ nhất, những di tồn về nhà nước:

  • Nguyên tắc tổ chức: luôn tổ chức nhà nước dựa trên nguyên tắc tập quyền.
  • Bản chất của nhà nước: tính xã hội nổi trội hơn tính giai cấp.
  • Chức năng của nhà nước: hai yếu tố trị thủy – thủy lợi và chiến tranh tự vệ chi phối đến việc thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
  • Do tổ chức bộ máy nhà nước ban đầu sơ khai, đơn giản nên những yếu tố tự trị, tự quản làng xã được duy trì để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Từ đây, hình thành chế độ tự trị, tự quản làng xã có ảnh hưởng đến lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, những di tồn về pháp luật:

  • Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và duy trì những tập quán đã được hình thành và còn phù hợp.
  • Việc ban hành những quy định của pháp luật luôn đảm bảo phù hợp với truyền thống, văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Từ những phân tích trên đây, có thể thấy trong quá trình hình thành nhà nước Văn Lang – Âu Lạc có những nét đặc thù riêng, xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của đất nước thời bấy giờ. Những đặc thù trên không chỉ ảnh hưởng đến sự ra đời của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc mà những di tồn của nó còn ảnh hưởng đến nhà nước Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử.

Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Phân tích đặc thù trong quá trình ra đời nhà nước Văn Lang – Âu Lạc. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.