Nguyen nhan dan den su sup do cua he thong

Nguyên nhân dân đến sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc thực dân

(HNM) – Điện Biên Phủ là một trong những chiến thắng oai hùng nhất của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã có tác động đến nhiều quốc gia và dân tộc trong khu vực cũng như trên thế giới, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva, công nhận nền hòa bình và độc lập dân tộc của nhân dân ba nước Đông Dương. Chiến thắng đó mở ra thời kỳ mới: Thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.
Xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp tổ chức bộ máy đô hộ và lập ra nhà nước phong kiến tay sai để cai trị đất nước, kìm kẹp nhân dân, đàn áp các phong trào đấu tranh, vơ vét tài nguyên và bóc lột sức lao động. Tháng 2-1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã xác định rõ: Tiến hành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành lại hòa bình và độc lập cho dân tộc, hạnh phúc và ấm no cho toàn dân. Đường lối cách mạng của Đảng đáp ứng nguyện vọng và lòng mong đợi của nhân dân. Được Đảng giác ngộ và lãnh đạo, nhân dân cả nước đã vùng lên đấu tranh giành chính quyền tháng 8-1945.

Nguyen nhan dan den su sup do cua he thong
Vận chuyển lương thực phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Không để Việt Nam được độc lập và dân tộc Việt Nam được tự do, núp dưới lá cờ đồng minh, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Khác với cuộc tiến công xâm lược lần thứ nhất năm 1858, quân Pháp bị quân và dân ta chặn đánh rất quyết liệt trên cả ba miền đất nước. Trước sức mạnh quân sự và dã tâm xâm lược của kẻ thù, Đảng ta đã lãnh đạo quân và dân cả nước bước vào công cuộc trường kỳ kháng chiến với phương châm “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”. Quan điểm “tự lực tự cường” dựa vào sức mình là chính, với tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, tạo sức mạnh đánh thắng quân địch. Có chủ trương và phương hướng lãnh đạo đúng đắn của Đảng, quân và dân ta đã anh dũng đứng lên đấu tranh, đẩy mạnh sản xuất, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang và thế trận chiến tranh toàn dân. Lực lượng vũ trang trưởng thành, thế trận chiến tranh nhân dân phát triển, quân và dân ta đã đánh thắng quân Pháp trong nhiều trận đánh lớn, tiến lên mở chiến dịch phản công, đánh bại cuộc tiến công chiến lược của địch vào chiến khu Việt Bắc. Giành quyền chủ động, quân và dân ta đã mở nhiều chiến dịch tiến công đánh thắng quân Pháp ở đường số 4, mở thông biên giới để tiếp nhận sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, cùng nhiều chiến dịch ở vùng trung du và đồng bằng, Bắc, Trung và Nam bộ. Thắng lợi đó đã làm thay đổi so sánh thế và lực, giữa ta và địch trên chiến trường có lợi cho cách mạng. Nhận thấy thất bại trong chiến tranh là điều khó có thể tránh khỏi, bước sang năm 1953 có sự viện trợ của Mỹ, Chính phủ Pháp dốc sức thực hiện kế hoạch chiến lược do tướng Nava xây dựng. Theo đó, quân Pháp hạn chế giao chiến, tập trung xây dựng lực lượng chủ lực, nhất là quân cơ động đủ sức mạnh đánh bại quân chủ lực Việt Minh, đi đến kết thúc chiến tranh trong danh dự. Đánh giá và dự đoán đúng âm mưu của kẻ thù, Bộ Chính trị mở chiến cục tiến công Đông Xuân 1953-1954, phối hợp chặt chẽ với nhân dân Lào và Campuchia, đánh địch rộng khắp trên toàn chiến trường, tập trung lực lượng chủ lực đánh địch trên những hướng chiến lược. Mục đích nhằm phân tán và dàn mỏng lực lượng chủ lực, nhất là quân cơ động, làm suy yếu quân Pháp, phá vỡ kế hoạch Nava, buộc chúng phải đưa lực lượng ra chiến trường có lợi, để ta tiêu diệt đi đến kết thúc chiến tranh. Đây là nghệ thuật điều địch phải hành động theo cách đánh của ta và kế tạo thế ta, phá thế địch của Bộ Chính trị. Đúng như dự tính, khi bộ đội ta tiến lên Tây Bắc giải phóng tỉnh Lai Châu, sợ mất địa bàn quan trọng, Nava vội vã đưa quân lên xây dựng Điên Biên Phủ thành tập đoàn phòng ngự chiến lược mạnh, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn. Tin tưởng vào sức mạnh và khả năng tác chiến của tập đoàn cứ điểm, Chính phủ và nhiều phương tiện thông tin của Pháp đánh giá và ca ngợi: Điện Biên Phủ là nơi bất khả xâm phạm, cơ hội để kết thúc chiến tranh Đông Dương. Ngay khi Pháp đổ quân xuống Điện Biên Phủ, Quân ủy Trung ương đã quyết định mở chiến dịch tiến công. Những đại đoàn chủ lực mạnh nhất, cùng nhiều phương tiện tác chiến hiện đại được đưa vào tác chiến. Cách đánh của chiến dịch cũng được tính toán và thảo luận kỹ, thay đổi nhiều lần để đi đến quyết định chính xác nhất. Đó là cơ sở để ta phát huy sức mạnh của quân và dân Điện Biên, sự chi viện và phối hợp tác chiến của cả nước, tạo sức mạnh đánh thắng quân địch giành thắng lợi quyết định chiến tranh. Trải qua 56 ngày đêm kiên cường và anh dũng chiến đấu, quân và dân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm lớn nhất của quân Pháp ở Đông Dương, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva công nhận nền hòa bình và độc lập của nhân dân ba nước Đông Dương. Thắng lợi mà nhân dân ta giành được đã làm nhân lên niềm tin, cổ vũ các dân tộc bị đô hộ, áp bức và bóc lột trên toàn thế giới vùng lên đấu tranh giành độc lập. Báo Tiếng nói nhân dân Albania viết: Chiến thắng Điện Biên Phủ đánh dấu giai đoạn mới trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc chống đế quốc ở Đông Nam Á cũng như trên thế giới. Chứng minh một dân tộc dù nhỏ bé, vẫn có thể đánh bại kẻ thù lớn mạnh và hung bạo nếu dân tộc đó có tinh thần cách mạng được Đảng lãnh đạo, nhân dân đoàn kết đấu tranh vì độc lập, dân chủ và tiến bộ, chống chủ nghĩa thực dân và đế quốc, được nhân dân thế giới ủng hộ. Báo Lao động Tân văn của Đảng Cộng sản Triều Tiên cho rằng: Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là chiến thắng của nhân dân Việt Nam, mà còn là chiến thắng chung của các dân tộc bị áp bức, bóc lột đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và thực dân giành độc lập.

Noi gương Việt Nam nhân dân ở nhiều nước bị thực dân và đế quốc đô hộ đã vùng lên đấu tranh giành độc lập. Chỉ tính riêng năm 1960, 17 nước ở Châu Phi giành được độc lập. Đến năm 1967 thực dân Pháp đã phải trao trả nền độc lập cho tất cả các nước thuộc địa còn lại. Qua đó cho thấy Chiến thắng Điện Biên Phủ đã thực sự trở thành thời điểm mở đầu, cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân và đế quốc trên phạm vi thế giới.

Đến khoảng thời gian nào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc – thực dân về cơ bản bị sụp đổ?

A.

Từ những năm 50 của thế kỉ XX.

B.

Từ những năm 60 của thế kỉ XX.

C.

Từ những năm 80 của thế kỉ XX.

D.

Từ những năm 90 của thế kỉ XX.

Nguyen nhan dan den su sup do cua he thong thuoc dia cua chu nghia de quoc thuc dan 184fc08da02e5858c3786ee348e82c20

Sự sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô đầu những năm 90 của thế kỷ XX là một sự kiện nổi bật, làm thay đổi căn bản cục diện chính trị thế giới, là một tổn thất đặc biệt to lớn của những người cộng sản.

Sự kiện đó đã để lại nhiều bài học quý giá cho chúng ta, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay.

Trong nửa sau của thế kỷ XX, trên thế giới đã hình thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, đủ sức kiềm chế mọi hành động đơn phương, hiếu chiến chống phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc. Nhờ đó mà hàng trăm dân tộc bị nô dịch, áp bức đã vùng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, làm suy sụp chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới.

Các nước XHCN mà đứng đầu là Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ghi dấu ấn trong lịch sử văn minh nhân loại. Nhưng thật trớ trêu, một số Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống XHCN hùng mạnh được họ dẫn dắt sụp đổ, tan rã. Cần lưu ý rằng, Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không phải do một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Năm 2005, trong Thông điệp Liên bang, Tổng thống Nga Putin cho rằng: “Liên Xô tan rã là tai họa chính trị nghiêm trọng nhất của thế kỷ XX. Đối với nhân dân Nga, đó là một bi kịch thực sự”.

1663989990 774 nguyen nhan dan den su sup do cua he thong

Từ một siêu cường, Đảng cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo sau 74 năm

Một đảng do Lênin sáng lập. Một Đảng từng lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của Sa hoàng Nga, xây dựng thành công Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên. Một đảng từng lãnh đạo nhân dân chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng.

Một đảng đã lãnh đạo chiến thắng phát xít Đức trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và cống hiến to lớn cho thắng lợi của thế giới trong chiến tranh thế giới thứ hai. Một đảng giành được nhiều thành tựu rực rỡ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội… Vì sao lại mất địa vị cầm quyền sau 74 năm? Đó là câu hỏi mà cho đến hôm nay vẫn còn mang ý nghĩa thời sự đối với những người cộng sản trên thế giới.

nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở liên xô là do…

Đã có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về nguyên nhân Liên Xô tan rã. Nhưng tựu chung lại, các công trình nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô là sự kiện chính trị phức tạp do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây nên. Bao gồm nhân tố trong và ngoài nước (bao gồm cả “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch), trong và ngoài Đảng, nhân tố lịch sử và hiện thực, nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị, nhân tố văn hóa, tư tưởng và cả nhân tố xã hội…

Thế nhưng, là rường cột của đất nước và nhân dân Liên Xô, là cốt thép của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, sự thoái hóa và biến chất trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô chính là một nhân tố chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của “toà thành trì” kiên cố, vĩ đại này.

Liên Xô tan rã cơ bản là do những sai lầm nghiêm trọng về chiến lược của Đảng Cộng sản Liên Xô, trước hết là trong công tác cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp chiến lược. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ XX, ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã không tỉnh táo và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ chủ chốt.

Các phần tử cơ hội, thực dụng về kinh tế và chính trị nắm giữ những trọng trách trong ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã phản bội lý tưởng XHCN và lợi ích dân tộc, phản bội tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo và làm tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô, làm cho lực lượng vũ trang bị “phi chính trị hóa”.

1663989991 331 nguyen nhan dan den su sup do cua he thong

Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô 1988

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 19 của Đảng Cộng sản Liên Xô (từ 28-6 đến 1-7-1988), Gorbachev đã báo cáo về “Tình hình thực hiện nghị quyết Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô và nhiệm vụ đi sâu cải tổ”, trong đó đưa ra phương án cải tổ với mục tiêu xây dựng “CNXH dân chủ nhân đạo”.

Điều này về thực chất là phủ nhận triệt để chủ nghĩa Mác – Lênin, áp dụng thể chế chính trị TBCN, thực hiện đa đảng qua cái gọi là “phân chia lại quan hệ quyền lực giữa Đảng với Xô viết”, giải tán 23 ban trực thuộc Trung ương Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô với tư cách Đảng cầm quyền. Hội nghị này là bước ngoặt cơ bản thay đổi thể chế chính trị của Liên Xô.

Trong báo cáo tại Đại hội XXVIII của Đảng Cộng sản Liên Xô (7-1990), Gorbachev công khai bài xích nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều lệ Đảng do Đại hội thông qua chính thức xóa bỏ nguyên tắc quan trọng nhất về tổ chức và hoạt động của Đảng. Ngày 24-8-1991, Gorbachev tự ý tuyên bố giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng và từ chức Tổng bí thư.

Ngày 29-8-1991, với tư cách là Tổng thống Liên Xô, Gorbachev ra lệnh giải thể các cơ quan chính trị và từ 1-9-1991 chấm dứt các hoạt động của Đảng trong quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa”. Ngày 25-12-1991, Gorbachev tuyên bố từ chức Tổng thống và bàn giao nút bấm toàn bộ kho vũ khí hạt nhân cho B.Elsin, đánh dấu sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô.

Sự thoái hóa của Đảng Cộng sản Liên Xô là do các đảng viên, trước hết và chủ yếu là các đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp cao, chưa đủ độ chín muồi về mặt chính trị, chưa thực sự giác ngộ về giai cấp, về lý tưởng cộng sản.

Những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: Sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hóa, suy đồi về đạo đức, lối sống…

Việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô có ý nghĩa rất to lớn đối với các Đảng Cộng sản trên thế giới, nhất là đối với Đảng Cộng sản cầm quyền như Đảng ta.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh chúng ta đang quyết liệt tiến hành đấu tranh đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Qua đó chúng ta càng thấy rõ hơn sự nguy hiểm của tình trạng suy thoái trong cán bộ, đảng viên và vai trò, ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay. Đảng ta xác định, việc ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái này là nhiệm vụ vừa cơ bản lâu dài, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII quyết định ban hành Nghị quyết “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, trong đó đã vạch rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (chỉ rõ 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ); nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường XHCN, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng…

Nghị quyết chỉ rõ: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Đại tá, PGS, TS Đinh Ngọc Hoa, PGĐ Học viện Chính trị CAND

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.