Nen van hoa oc eo duoc phat hien tai

Nền văn hóa Óc Eo được phát hiện tại

Sáng nay (25/3), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức công bố kết quả thực hiện Đề án “Nghiên cứu khu di tích khảo cổ học Óc Eo – Ba Thê, Nền Chùa (Văn hóa Óc Eo Nam Bộ) qua ấn phẩm “Văn hóa Óc Eo – Những phát hiện mới khảo cổ học tại di tích Óc Eo – Ba Thê và Nền Chùa 2017 – 2020”. Ấn phẩm này do PGS.TS Bùi Minh Trí, TS. Nguyễn Gia Đối, TS. Nguyễn Khánh Trung Kiên đồng chủ biên.

Nen van hoa oc eo duoc phat hien tai

Toàn ảnh lễ công bố kết quả thực hiện đề án khảo cổ văn hóa Óc Eo sáng 25/3. Ảnh: Tuyết Loan.

Theo đó, Óc Eo là một nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng ở Nam Bộ, có liên quan mật thiết tới lịch sử hình thành, phát triển của vương quốc Phù Nam vào đầu Công nguyên. Những dấu vết vật chất thuộc nền văn hóa Óc Eo được các học giả người Pháp phát hiện từ cuối thế kỷ 19 qua một số ghi nhận về di tích và di vật tìm thấy trong vùng đồng bằng Nam Bộ.

Dấu mốc quan trọng đánh dấu lịch sử phát hiện và nghiên cứu về nền văn hóa này là cuộc khai quật khảo cổ tại cánh đồng Óc Eo do Louis Malleret thực hiện vào năm 1944. Từ kết quả khai quật, L. Malleret chính thức định danh tên gọi nền văn hóa này là Văn hóa Óc Eo.

Sau nhiều thập niên nghiên cứu tại đồng bằng sông Cửu Long, L. Malleret đã đưa ra nhận định quan trọng rằng, văn hóa Óc Eo là bộ phận biển của vương quốc Phù Nam với không gian phân bố chủ yếu trên miền đất ngập nước thuộc hạ lưu châu thổ sông Mê Kông mà chủ yếu là miền Tây sông Hậu và một phần ở vùng Đồng Tháp Mười.

Nen van hoa oc eo duoc phat hien tai

Khai quật khảo cổ học tại di tích Nền Chùa, Kiên Giang. Ảnh: VHLKHXHVN.

Đây là nền văn hóa cổ thuộc giai đoạn phát triển cao nhất, rực rỡ nhất ở vùng này, có niên đại vào khoảng thế kỷ 1 – 2 đến thế kỷ 6 – 7 và có thể còn kéo dài đến cuối thế kỷ 8. L. Malleret cũng nhìn nhận văn hóa Óc Eo là sản phẩm vật chất của văn minh Phù Nam – Ấn Độ hóa thuộc bộ phận biển với di tích Óc Eo được xác định là trung tâm lớn và quan trọng nhất của nền văn hóa này.

Đây là đô thị cảng có tiền cảng là Tàkeo (Nền Chùa), có tính chất như một Venise ở Châu Á. Qua nhiều thập niên bị gián đoạn, từ sau năm 1975 cho đến nay, hàng trăm di tích văn hóa Óc Eo đã được khảo cổ học Việt Nam phát hiện, khai quật và nghiên cứu tại nhiều tỉnh ở đồng bằng Nam Bộ.

Những nghiên cứu này đã có rất nhiều phát hiện mới quan trọng, từng bước làm sáng rõ hơn những nhận định của L. Malleret về văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam trên các lĩnh vực. Trong đó, Óc Eo – Ba Thê được xem là khu di tích khảo cổ học nổi tiếng và quan trọng nhất, là nơi tập trung một quần thể di tích khảo cổ học dày đặc và phong phú nhất ở Nam Bộ.

Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức thực hiện Đề án “Nghiên cứu khu di tích khảo cổ học Óc Eo – Ba Thê, Nền Chùa (Văn hóa Óc Eo Nam Bộ)”.

Nen van hoa oc eo duoc phat hien tai

Các cuộc khai quật đã mở ra nhiều phát hiện mới về đô thị Óc Eo phát triển rực rỡ từ thế kỷ 1 đến 8. Ảnh: VHLKHXHVN.

Nhiệm vụ chính của đề án là khai quật, nghiên cứu khảo cổ học văn hóa Óc Eo tại các di tích ở Óc Eo – Ba Thê (huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) và di tích Nền Chùa (huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang) nhằm thu thập tư liệu và làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, đồng thời nghiên cứu sâu hơn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của đô thị cổ Óc Eo trong lịch sử Việt Nam, khu vực Đông Nam Á và châu Á; cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị, đặc biệt là cho công tác xây dựng hồ sơ đề cử UNESCO xem xét công nhận khu di tích Óc Eo – Ba Thê và Nền Chùa là di sản văn hóa thế giới.

Phát hiện hiện vật khảo cổ quý giá tại di tích Óc Eo

Từ năm 2017 – 2020, Viện Khảo cổ học và Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đã tiến hành khai quật khảo cổ học khu di tích Óc Eo – Ba Thê với quy mô lớn, có diện tích trên 16.000m² tại 2 khu vực cánh đồng Óc Eo và sườn núi Ba Thê với 8 địa điểm: Gò Giồng Cát, Gò Giồng Trôm, Gò Óc Eo, Lung Lớn (Cánh đồng Óc Eo); Gò Sáu Thuận, Gò Út Trạnh, Chùa Linh Sơn, Linh Sơn Bắc (núi Ba Thê).

Từ năm 2018-2020, Viện Nghiên cứu Kinh thành tiến hành khai quật khu di tích Nền Chùa với diện tích 8000m². Đây là khu di tích nằm dưới cánh đồng rộng lớn, cách Óc Eo – Ba Thê khoảng 12km theo đường chim bay về phía Bắc. 

Sau gần bốn năm thực hiện nhiệm vụ, kết quả khai quật khảo cổ học có quy mô lớn nhất từ trước đến nay tại Óc Eo – Ba Thê (An Giang) và Nền Chùa (Kiên Giang) đã phát hiện được nhiều loại hình di tích quan trọng như kiến trúc đền tháp, các loại giếng nước, hồ nước được xây dựng bằng gạch, đá cùng nhiều loại hình di tích cư trú, sinh hoạt, sản xuất thủ công.

Nen van hoa oc eo duoc phat hien tai

Cuốn sách “Văn hóa Óc Eo – Những phát hiện mới khảo cổ học tại di tích Óc Eo – Ba Thê và Nền Chùa 2017 – 2020” là thành quả nghiên cứu miệt mài của các nhà khoa học. Ảnh: VHLKHXHVN.

Đặc biệt, cuộc khai quật này đã đưa lên khỏi lòng đất một số lượng cực kỳ phong phú, đa dạng các loại hình di vật, trong đó nhiều nhất là đồ gốm và đồ trang sức bằng thủy tinh.

Kết quả khai quật đã phát hiện được nhiều vấn đề khoa học mới, minh chứng rõ ràng và thuyết phục hơn về đặc điểm, tính chất của “đô thị cổ” Óc Eo trên cánh đồng Óc Eo ngày nay, xưa vốn là nơi tụ cư ven kênh rạch với sinh kế nông nghiệp và thương nghiệp nổi trội, có mối giao lưu văn hóa, thương mại hàng hải rất phát triển, liên kết nhiều khu vực trên thế giới thời bấy giờ.

Bên cạnh đó, kết quả khai quật tại núi Ba Thê cũng đã phát hiện một quần thể di tích kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng có quy mô lớn đưa lại một bức tranh khá sinh động về trung tâm tôn giáo lớn của vương quốc Phù Nam và đời sống sinh hoạt văn hóa rất đặc sắc của đô thị cổ Óc Eo trong lịch sử.

Từ những phát hiện quan trọng của khảo cổ học năm 2017-2020, lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam tiếp tục được làm sáng rõ qua các loại hình di tích và di vật mới phát hiện. Trong gần 8 thế kỷ tồn tại và phát triển, từ những thế kỷ đầu Công nguyên đến thế kỷ 8 sau Công nguyên, thế kỷ 4 – 6 là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của đô thị cổ Óc Eo và vương quốc Phù Nam.

Lâu nay hầu như ai cũng cho rằng nhà khảo cổ người Pháp – Louis Malleret là người đầu tiên phát hiện nền văn hóa Óc Eo, với địa điểm được khai quật đầu tiên ở Ba Thê (huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ngày nay) vào năm 1944. Bài viết này xin cung cấp thêm một số thông tin để bạn đọc hiểu rõ hơn về những ngày đầu tiên nền văn hóa này được biết đến.

Nen van hoa oc eo duoc phat hien tai

Nhà trưng bày Văn hóa Óc eo tại An Giang. Ảnh của Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo tỉnh An Giang.

Lần đọc các sách sử cũ, có khá nhiều tư liệu ghi chép về sự phát hiện những cổ vật trong lòng đất. Trịnh Hoài Đức ghi trong “Gia Định thành thông chí” về gò Cây Mai: “Cách phía Nam trấn (Phiên An) 30 dặm rưỡi, ở đây gò đất nổi cao (…) trên có ngôi chùa Ân Tôn (…), năm Bính Tý (1816) niên hiệu Gia Long thứ 15 có thầy tăng trùng tu (chùa), đào lấy được ngói gạch cỡ lớn của đời xưa rất nhiều, và lại đào được hai miếng vàng lá, tứ bề vuông một tấc, mỗi miếng nặng 3 đồng cân, trên mặt chạm hình cổ Phật cỡi voi”. Trong một cuốn sách xuất bản năm 1885, Trương Vĩnh Ký có nói rõ cổ tích của vùng đất Chợ Quán (Sài Gòn), theo đó Viện Bảo tàng Sài Gòn đến đào và tìm gặp nhiều tảng đá to đem về đặt ngoài hành lang viện, hình như đó là táng cửa, táng cột phướn và định chừng nếu có dịp đào đất chỗ này, may ra còn gặp cổ tích nữa.

Trong phần viết về cù lao Lớn, trang 268, sách “Tự vị Tiếng Việt miền Nam”, Vương Hồng Sển cho biết về “Tên cù lao ở hạt Vĩnh Long, Đại Châu; cù lao Minh giữa Cổ Chiên và Hàm Luông (Bến Tre)” và ghi chú thêm một số sự kiện. Tại Long An Tự ở làng An Thạnh, tổng Minh Đạo, tỉnh Bến Tre, còn gọi Vat Trà Non, cách Mỏ Cày độ 5km, năm 1928 có đào gặp một lu chôn 94 Phật nhỏ bằng vàng có, bằng bạc có, ngoài kim khí, trong bọc đất sét, đem về Viện Bảo tàng Sài Gòn, nhưng năm 1944 lại gởi giấu trong tủ sắt Tòa bố tỉnh Long Xuyên, đến năm 1945 có lính Nhựt chiếm, các vật lưu trữ ấy đều bị thất lạc (theo “Le Cisbassac”, trang 48). Năm 1930, đào được ở làng Thới Thạnh, tổng Minh Phú (Bến Tre) một Phật bằng chai (“Le Cisbassac”, trang 49). Tại làng Phước Mỹ Trung, tổng Minh Thiện (Bến Tre), ném về hướng bắc của chợ Ba Vát, có đào gặp một đầu Phật đá Miên tại chùa Linh Quang Tự (“Le Cisbassac” trang 49).

Như vậy trong sách, sử cho thấy người dân ở hầu khắp Nam Kỳ đều bắt gặp những cổ vật trong lòng đất tận từ thời Gia Long. Cũng cần biết thêm, từ những phát hiện của nhân dân, nhà trí thức Nam Bộ Phạm Thiều (1904-1986) – sau này là một trong những vị Giáo sư đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – từng đề xuất với chính quyền thuộc địa lúc bấy giờ cho tiến hành thám sát, khai quật để nghiên cứu. Tác giả Hoàng Lê trong bài viết “Giáo sư Phạm Thiều cảm nhận trong tôi” có kể lại: “Năm 1927 xin đi vào Nam Kỳ dạy học và làm ở Sở Khảo cổ (…). Có lần bọn sinh viên chúng tôi hỏi thầy có kỷ niệm gì sâu sắc khi làm ở khảo cổ, thầy Phạm Thiều kể về gò Óc Eo ở Ba Thê, Long Xuyên, thầy phát hiện và báo để ông Malleret biết”.

Nen van hoa oc eo duoc phat hien tai

Nhà trưng bày Văn hóa Óc eo tại An Giang. Ảnh của Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo tỉnh An Giang.

Nhà khảo cổ Malleret là người có công lớn đối với nền văn hóa Óc Eo – một nền văn hóa mà người Việt Nam nói chung, người ở đồng bằng Nam Bộ nói riêng, trước hết là cư dân ở Óc Eo – Ba Thê, vô cùng trân trọng. Bởi đó là một di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phản ánh đời sống sinh hoạt cổ sơ của lớp cư dân bản địa, rất có giá trị trong việc nghiên cứu về tiến trình văn minh nhân loại.

Cụ thể ngày 9-2-1944, ông Malleret đã hướng dẫn đoàn phái bộ khảo cổ lên đường đi Long Xuyên để thực hiện khai quật di chỉ khảo cổ Óc Eo. Trong lữ ký “Hai tháng ở gò Óc Eo” hay là “Câu chuyện đi đào vàng” đăng trên tạp chí Tri Tân, một thành viên của phái bộ, tác giả Biệt Lam Trần Huy Ba, có tả đoạn từ Long Xuyên tới làng Vọng Thê và công việc bố trí khai quật ban đầu, dưới dạng thơ gồm 128 câu, xin trích vài đoạn:

“Tới Vọng Thê mười hai giờ đúng,

Đủ kỳ hào dân chúng đón mời”

“Xa trông thấp thoáng mấy gò,

Kìa gò Cây Thị, nọ gò Óc Eo,

Gò Giồng Cát lèo tèo mấy xóm,

Làng Ông Phi một mỏm chạy dài.

Nhấp nhô gò đá một hai,

Ông Tà lại mọc một vài cây trôm.

Ngắm địa thế hai hôm về trước,

Đồ cổ xưa nhặt được khá nhiều.

Mảnh sành hạt ngọc nồi niêu

Cùng đồ trang sức mỹ miều khắp nơi.

Viện Bác Cổ phái người xem xét,

Các phái viên dò xét từng li.

Hễ tìm kiếm được vật gì,

Bản đồ kịp giở tức thì biên tên”…

Phái bộ khảo cổ có 4 nhân viên, ngoài ra có 15 trại sinh ở các tỉnh Rạch Giá, Long Xuyên, Sài Gòn và Cần Thơ. Tỉnh Long Xuyên phái thêm một thầy khán hộ và 10 người lính khố xanh, tất cả gồm có 30 người. Họ đến làng Vọng Thê thời bấy giờ thuộc quận Long Xuyên, tỉnh Long Xuyên, bao bọc quanh dãy núi Ba Thê, giáp làng Mỹ Lâm thuộc tỉnh Rạch Giá. Họ cũng khám phá gò Óc Eo về phía đông nam núi Ba Thê độ hai cây số; hay gò Cây Thị là khu vực cao nhất trên một cánh đồng bát ngát nhấp nhô vài gò đất. Ở khu vực này có câu chuyện một người thợ cày ở Vọng Thê, khi cày ruộng, lưỡi cày chạm vào một vật cứng, bới ra xem thì là một pho tượng ở trong một cái khung dài độ 20 phân; khi rửa sạch đất thì ra bằng vàng, người đó đem về nhà để thờ được ít lâu, thì bị kẻ trộm lấy mất. Từ đó người ta đồn đại xôn xao, rồi kẻ kiếm được vật này, người lượm được đồ kia, thứ thì bằng vàng, thứ thì bằng ngọc thạch.

Nen van hoa oc eo duoc phat hien tai

Một số hiện vật của văn hóa Óc Eo tại Bảo tàng tỉnh An Giang. Ảnh của Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo tỉnh An Giang.

Tư liệu ghi lại rằng, cư dân vùng ấy thuật lại trong vài năm họ đã lượm được rất nhiều đồ quý báu, nên cứ đến kỳ nước lớn thì mỗi ngày có hàng nghìn ghe xuồng kéo đến; số người lặn nước mò vàng có tới vài ba nghìn người; người được thức nọ, kẻ được thức kia, không mấy người phải về tay không. Đến nỗi hàng quà, hàng bánh, kẻ bán người mua, những đồ lượm được, đã thành một cái chợ to; ghe thuyền tụ họp rất đông vui. Có cả mấy hiệu vàng bạc ở các nơi kéo về, nghiễm nhiên mở hàng để mua đồ mà dân đãi được; họ mua được hươu vàng, rùa vàng, tượng vàng, kiềng vàng, nhẫn vàng, đồ ngọc thạch chạm trổ tinh vi, hột cườm bằng mã não, thủy tinh, toàn quý vật. Vì thế nên một cánh đồng bề dài độ 4 cây số, bề ngang độ 2 cây rưỡi, đã bị họ đào thành từng lỗ sâu nông, như cánh đồng bị bom đạn phá. Họ đào bới tứ tung. Tứ phương đồn đại, người ta lại càng kéo đến nhiều hơn.

Ông Louis Malleret, Chánh đoàn phái bộ khảo cổ, sau đó nghiên cứu và tuyên bố những đồ vật tìm thấy ở vùng Óc Eo này có lẽ thuộc phạm vi của nước Phù Nam vào hồi thế kỷ thứ tư, thứ năm sau Tây lịch. Phù Nam nguyên là một “hòn đảo lớn” bởi nó được khu biệt rõ từ một vịnh biển ở vùng cửa sông Cửu Long mà lúc bấy giờ hãy còn nằm sâu trong đất liền (tận vùng đất mà ngày nay ta gọi là Thoại Sơn). Lúc ấy thuyền của người Trung Hoa và Ấn Độ có thể giong buồm đến Phù Nam và đi luôn tới Mã Lai dễ dàng. Sau vương quốc này mở rộng thêm, lãnh thổ bao trùm hết nước Campuchia, miền Nam Thái Lan, một phần nước Lào, toàn miền Nam Việt Nam và có thể lớn hơn nếu kể luôn những lần hưng binh đi chinh phục một số nơi khác, nhưng chỉ có tính cách nhất thời.

Tùy từng giai đoạn lịch sử, kinh đô Phù Nam được di dời ít nhất cũng vài lần. Từ nghi thức thủy táng nhà vua của người Phù Nam (sau khi hỏa táng vua Matualin xong, họ ném hộp vàng đựng xương của ngài xuống biển), cho phép các nhà nghiên cứu hiểu rằng có lúc kinh đô của Phù Nam ở sát biển cho nên có thể đó là Óc Eo. Qua nghiên cứu, các nhà khảo cổ cho rằng Óc Eo chính là thành Naphetna, nơi đóng đô của vua Phù Nam và cung của ông hoàng Nripaditya cũng ở tại Óc Eo này.

Vậy Ba Thê – Óc Eo lúc bấy giờ không chỉ là một hải cảng sầm uất mà một thời còn là kinh đô của vương quốc cổ Phù Nam.

Nguyễn Hữu Hiệp

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.