Mới quyền và nghĩa vụ đều có thể chuyển giao cho chủ thể khác dụng hay sai

Các quyền tài sản khác trong luật dân sự 2015

– quyền tài sản và các quyền tài sản khác phải được xác định và thực hiện trong trường hợp Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan quy định; Các quyền tài sản khác vẫn có hiệu lực trong trường hợp có sự chuyển giao quyền tài sản, trừ trường hợp pháp luật dân sự hoặc pháp luật khác có liên quan có quy định khác;

– Chủ sở hữu có thể thực hiện mọi hành vi mà mình muốn đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của pháp luật hoặc gây thiệt hại, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; Chủ thể quyền tài sản khác được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền của mình được quy định trong Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan nhưng không được gây nguy hại, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích quốc gia. lợi ích công cộng và quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác; Chủ sở hữu quyền tài sản khác còn phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác với chủ sở hữu tài sản hoặc luật dân sự, luật khác có liên quan có quy định khác;

– thời điểm xác lập quyền đối với tài sản và các quyền khác đối với tài sản phải phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan; Nếu pháp luật không có quy định thì áp dụng theo thỏa thuận của các bên; Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác và các bên không có thoả thuận thì thời điểm hình thành vốn chủ sở hữu và các quyền khác đối với tài sản là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu.

Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm mà bên có nghĩa vụ hoặc người đại diện theo pháp luật của họ mua được tài sản. Trường hợp chưa chuyển quyền sở hữu mà đã phát sinh tiền thu, lợi tức thì tiền thu được, lợi tức được chuyển cho bên có tài sản chuyển giao, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Về bảo vệ quyền tài sản và các quyền tài sản khác (Điều 163 Điều 170): Bộ luật Dân sự năm 2015 chủ yếu kế thừa các quy định về bảo vệ quyền tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2005. Để bảo vệ các quyền tài sản khác, Bộ luật Dân sự năm Năm 2015 quy định: Các chủ sở hữu tài sản khác có quyền tự bảo vệ mình và ngăn chặn bất kỳ ai xâm phạm quyền của mình bằng các biện pháp không trái với quy định của pháp luật. quy định của pháp luật; Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản do chủ sở hữu có quyền khác đối với tài sản chiếm hữu. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn, thuận lợi hơn cho việc khai thác, sử dụng có hiệu quả tài sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, thiết lập cơ chế pháp lý để các chủ thể không phải là chủ sở hữu thực hiện các quyền. tài sản thuộc sở hữu của chủ thể khác và để bảo đảm tối đa hóa lợi ích từ các lợi ích trên cùng tài sản đó, bảo đảm trật tự, ổn định trong các quan hệ có liên quan, Bộ Tài chính và Bộ Tài chính. Luật sửa đổi các quy định liên quan đến quyền sử dụng hạn chế tài sản lân cận trong Luật Bộ luật Dân sự năm 2005 và các quy định bổ sung về quyền sử dụng và quyền bề mặt:

* Về quyền sáp nhập bất động sản (Điều 245 – Điều 256): Pháp luật quy định quyền này theo cách tiếp cận điều chỉnh mối quan hệ giữa hai bất động sản, như:

– Quyền tích lũy bất động sản là quyền sử dụng bất động sản (gọi là bất động sản mắc nợ) để phục vụ cho việc khai thác bất động sản thuộc sở hữu của người khác (gọi là bất động sản mắc nợ). Địa ốc);

– quyền sáp nhập bất động sản do địa thế tự nhiên tạo ra, theo thỏa thuận hoặc di chúc do luật định, theo thỏa thuận hoặc di chúc;

Quyền sáp nhập bất động sản có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân và được chuyển giao khi chuyển nhượng bất động sản, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác.

– Thực hiện quyền định đoạt bất động sản theo thỏa thuận giữa các bên. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì nguyên tắc bảo đảm nhu cầu hợp lý của việc khai thác bất động sản phù hợp với mục đích sử dụng của cả tài sản nợ và tài sản phải thu; không được lạm dụng quyền đối với bất động sản thuộc đối tượng của quyền này; không thực hiện các hành vi ngăn cản hoặc gây khó khăn cho việc thực hiện quyền đối với bất động sản;

– Trong trường hợp có sự thay đổi về việc sử dụng, khai thác bất động sản mà bất động sản được tích lũy dẫn đến việc thực hiện quyền đối với bất động sản có sự thay đổi thì chủ sở hữu bất động sản phải báo trước cho người có quyền. Quyền sở hữu bất động sản trong một khoảng thời gian hợp lý. Chủ sở hữu bất động sản phải tạo điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu bất động sản đến hạn theo sự thay đổi này;

– quyền tiếp giáp của bất động sản chấm dứt nếu bất động sản và bất động sản thuộc sở hữu của một người; Việc sử dụng, khai thác bất động sản không còn phát sinh nhu cầu hưởng quyền; Theo thỏa thuận giữa các bên và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

* Vòng quanh Quyền sử dụng (Điều 257 – Điều 266): đang được Các quyền được thêm gần đây:

Quyền sử dụng là quyền của chủ thể khai thác, hưởng tiền, lợi tức về tài sản thuộc sở hữu của người khác trong một thời gian nhất định;

– sCơ cấu sử dụng có thể được tạo ra bởi luật pháp, thỏa thuận hoặc Quyền sử dụng được lập theo ý chí kể từ thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sở hữu, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật liên quan có quy định khác; Quyền hưởng dụng đã được xác lập và có giá trị đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác;

– Cá nhân và pháp nhân có thể được sử dụng các quyền. Thời hạn của quyền sử dụng do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định, nhưng cho đến hết cuộc đời của người thụ hưởng đầu tiên, nếu người hưởng lợi là cá nhân và cho đến khi pháp nhân không còn tồn tại, nhưng tối đa 30 năm nếu người hưởng lợi đầu tiên. người thụ hưởng là pháp nhân.

– người thụ hưởng có quyền tự mình hoặc cho người khác khai thác, sử dụng, thu tiền, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng; Người thụ hưởng được hưởng số tiền thu được, lợi tức từ tài sản được hưởng trong thời gian quyền này có hiệu lực, trong trường hợp tài sản đó hết hiệu lực mà không được hưởng lãi tức thời, khi hoa lợi, lợi tức đến hạn. , đối tượng được hưởng phần giá trị hoa lợi, lợi tức tương ứng với thời gian mà mình được hưởng; Yêu cầu chủ sở hữu tài sản thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tài sản để bảo đảm tài sản không bị hư hỏng nặng dẫn đến không sử dụng được tài sản hoặc mất toàn bộ lợi ích, giá trị của tài sản; Trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ nhân danh chủ sở hữu tài sản thì có quyền yêu cầu chủ tài sản bồi hoàn chi phí; Người thụ hưởng có quyền cho thuê quyền sử dụng trong thời hạn của quyền sử dụng;

– người thụ hưởng có nghĩa vụ nhận tài sản trong tình trạng hiện tại và đăng ký tài sản đó nếu pháp luật có quy định về điều này; Khai thác tài sản đúng mục đích hưởng lợi, sử dụng tài sản; để giữ và duy trì tài sản như thể nó là của riêng họ; Bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên tài sản để đảm bảo sử dụng bình thường; khôi phục tình trạng của tài sản và xử lý hậu quả kém của tài sản do không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình theo yêu cầu kỹ thuật hoặc theo phong tục giữ tài sản; trả lại tài sản cho chủ sở hữu khi hết thời gian sử dụng;

– chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản, nhưng không được thay đổi cấu trúc sử dụng cố định; yêu cầu Tòa án hủy bỏ việc sử dụng trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình; không được cản trở hoặc thực hiện bất kỳ hành vi nào khác gây khó khăn, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người thụ hưởng; Thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tài sản để bảo đảm không bị hư hỏng nặng dẫn đến không sử dụng được tài sản hoặc làm mất công dụng, giá trị của tài sản;

– Quyền hưởng dụng hết hạn khi thời hạn hưởng dụng hết hạn; theo thỏa thuận giữa các bên; Người sử dụng trở thành chủ sở hữu của tài sản chịu sự chuyển nhượng; Người thụ hưởng chuyển giao quyền hưởng dụng hoặc không thực hiện quyền hưởng dụng trong thời hạn do pháp luật quy định; Tài sản thuộc quyền sử dụng không còn tồn tại; Theo quyết định của tòa án hoặc vì lý do khác do pháp luật quy định.

Khi chấm dứt việc hưởng dụng thì tài sản được hưởng phải trả lại cho chủ sở hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

* Về quyền bề mặt (Điều 267 – Điều 273): Một quyền mới được bổ sung:

– Quyền bề mặt là quyền của một người đối với đất đai, mặt nước, diện tích trên đất liền, mặt nước và bề mặt dưới mặt đất và quyền sử dụng đất này thuộc về chủ thể khác;

Quyền bề mặt được xác định theo luật, thỏa thuận hoặc di chúc. Quyền bề mặt có hiệu lực kể từ thời điểm người có quyền sử dụng đất chuyển giao đất, mặt nước, diện tích đất, mặt nước, mặt đất cho người có quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có liên quan có quy định khác;

– quyền bề mặt có giá trị đối với mọi cá nhân và pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác;

– Thời hạn của quyền bề mặt được xác định theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận hoặc không vượt quá thời hạn của quyền sử dụng đất. Trong trường hợp thoả thuận hoặc di chúc không quy định thời hạn của vật quyền hời hợt thì mỗi bên có quyền chấm dứt quyền đó bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước ít nhất 6 tháng;

Chủ sở hữu quyền bề mặt có quyền khai thác, sử dụng đất, mặt nước, diện tích trên mặt đất, mặt nước và lòng đất dưới lòng đất, quyền xây dựng, trang trại, trồng trọt của người khác và được sở hữu bất động sản được tạo ra nhưng không trái với quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Công trình, Quy hoạch và Tài nguyên khoáng sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Trong trường hợp chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần quyền mái nhà thì bên nhận chuyển nhượng quyền sở hữu mái tôn phù hợp với hoàn cảnh và trong phạm vi tương ứng với phần quyền mái nhà được chuyển nhượng;

– Quyền bề mặt hết hạn khi thời hạn của quyền boong hết hạn; Người có quyền bề mặt và người có quyền sử dụng đất là như nhau; Chủ sở hữu quyền bề mặt từ bỏ quyền của họ; Quyền sử dụng đất bị bãi bỏ các quyền bề mặt theo quy định của Đạo luật Đất đai; Theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật.

Khi quyền sử dụng đất hết hiệu lực thì người có quyền sử dụng đất phải trả lại đất, mặt nước, phần diện tích trên mặt đất, mặt nước và phần dưới đất cho người có quyền sử dụng đất theo thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật. Chủ sở hữu quyền bề mặt phải định đoạt tài sản của mình trước khi chấm dứt quyền bề mặt, trừ trường hợp có thoả thuận khác; Trong trường hợp chủ sở hữu quyền bề mặt không xử lý tài sản đó trước khi quyền bề mặt chấm dứt thì quyền sở hữu tài sản đó chuyển trực tiếp cho chủ sở hữu quyền sử dụng đất kể từ thời điểm chấm dứt quyền. bề mặt, trừ khi chủ sở hữu có quyền làm như vậy. Sử dụng đất mà không có được tài sản. Trong trường hợp người có quyền sử dụng đất không nhận tài sản mà phải xử lý tài sản thì người có quyền bề mặt phải chịu chi phí xử lý tài sản.

Tuyết ha

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.