Khong deo khau trang khi ra duong bi phat den 300000 dong

Không đeo khẩu trang khi ra đường bị phạt đến 300.000 đồng

Hà Nội: Không đeo khẩu trang nơi công cộng có thể bị phạt 300.000 đồng

Hà Nội đã xử phạt 13 trường hợp vi phạm pháp luật về phòng chống dịch, trong đó có hành vi không đeo khẩu trang nơi công cộng.

Khong deo khau trang khi ra duong bi phat den 300000 dong
Người nào không đeo khẩu trang nơi công cộng sẽ bị phạt đến 300.000 đồng. (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN)

Sau khi xảy ra 2 vụ lây nhiễm tại cộng đồng, Hà Nội đã đẩy mạnh tuyên truyền và xử phạt 13 trường hợp vi phạm pháp luật về phòng, chống COVID-19.

Theo đánh giá của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, hiện Hà Nội có nguy cơ lây nhiễm do lượng người đi du lịch, công tác tại Đà Nẵng tương đối lớn. Vì vậy, Ban phối hợp xuất bản, giáo dục pháp luật thành phố Hà Nội có văn bản đề nghị các sở, ban, ngành, đoàn thể thành phố và hội đồng phối hợp trong công tác xuất bản, giáo dục pháp luật của tỉnh. Các tỉnh, thành phố tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới.

Cụ thể, các địa phương tập trung công bố kịp thời các văn bản chỉ đạo của Trung ương và thành phố Hà Nội về công tác phòng, chống dịch COVID-19; Đặc biệt chú trọng việc phổ biến thông tin chính xác, kịp thời cho cán bộ, công chức, viên chức và cá nhân về tình hình dịch tễ và các biện pháp phòng, chống dịch hiệu quả.

UBND TP Hà Nội kêu gọi các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng chống dịch như: Thường xuyên rửa tay, đeo khẩu trang nơi công cộng, khi tham gia giao thông …

Hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn Hà Nội cần được thực hiện bằng các hình thức phù hợp để đảm bảo các điều kiện cho công tác phòng chống dịch.

[Hà Nội: Xử phạt quán bar hoạt động sai quy định giữa dịch COVID-19]

Đáng chú ý, để giảm sự lây lan của dịch bệnh, thành phố Hà Nội đã đưa sự trừng phạt 13 hành vi vi phạm Luật Phòng chống dịch COVID-19, trong đó ghi rõ người không đeo khẩu trang nơi công cộng bị phạt đến 300.000 đồng.

Người nào vứt khẩu trang đã qua sử dụng không đúng nơi công cộng sẽ bị phạt đến 5 triệu đồng, nếu vứt trên vỉa hè, đường phố sẽ bị phạt đến 7 triệu đồng.

Người che giấu tình trạng bệnh của mình hoặc người khác khi nhiễm COVID-19 sẽ bị phạt đến 2 triệu đồng.

Không chấp hành quyết định tạm đình chỉ hoạt động đối với cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ lây truyền dịch bệnh trong vùng dịch bị phạt tiền tối đa là 10 triệu đồng đối với cá nhân, 20 triệu đồng đối với doanh nghiệp.

Không thực hiện quyết định thực hiện các biện pháp hạn chế tụ tập đông người hoặc tạm ngừng kinh doanh, dịch vụ nơi công cộng để phòng, chống dịch COVID-19 sẽ bị phạt đến 10 triệu đồng đối với cá nhân, 20 triệu đồng đối với doanh nghiệp .

Người nào không chấp hành quyết định khám bệnh, giám sát, điều trị trước khi ra, vào vùng dịch sẽ bị phạt tối đa 20 triệu đồng.

Người nào trốn khỏi kiểm dịch, không tuân thủ các quy định về cách ly, từ chối hoặc trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly gây thiệt hại 100 triệu đồng do chi phí phòng chống dịch COVID-19 sẽ bị xử lý vi phạm hành chính. theo quy định tại Điều 295 BLHS.

Người nào khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối, gây lây truyền bệnh COVID-19 cho người khác sẽ bị xử lý theo Điều 240 BLHS. Người đăng tải trên mạng máy tính, mạng viễn thông thông tin sai sự thật, thông tin không chính xác, thông tin sai sự thật về tình trạng dịch COVID-19 có thể bị phạt tiền đến 15 triệu đồng hoặc bị xử lý theo quy định. Điều 288 Pháp luật tố tụng hình sự.

Người có hành vi dùng vũ lực, đe dọa vũ lực hoặc dùng thủ đoạn để cản trở người có trách nhiệm thi hành công vụ trong phòng, chống dịch COVID-19 phải bị xử lý theo quy định tại Điều 330 BLHS.

Chủ doanh nghiệp, người quản lý các công ty kinh doanh dịch vụ (chẳng hạn như quán bar, vũ trường, karaokekinh doanh dịch vụ massage, thẩm mỹ viện …) thực hiện hoạt động kinh doanh khi có quyết định tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh phòng, chống dịch COVID-19 làm thất thoát kinh phí phòng, chống dịch bệnh từ 100 triệu đồng trở lên. kiểm soát theo quy định tại Điều 295 BLHS.

Người nào lợi dụng sự khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong trường hợp dịch COVID-19 lây lan để mua hàng hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố là hàng hóa ấn định giá, hàng hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Nhà nước định giá bán lại thu lợi bất chính thuộc tội đầu cơ theo quy định tại Điều 196 BLHS.

Lu Hong

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 ở Việt Nam đang trong giai đoạn bùng phát và có nguy cơ lây lan ra cộng đồng, Bộ Y tế đã không ngừng khuyến khích người dân phải đeo khẩu trang khi ra ngoài để tránh lây lan. bệnh tật. lan. Tại Thông báo 98 / TB-VPCP ngày 14/3/2020, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu mọi người phải đeo khẩu trang nơi công cộng kể từ ngày 16/3/2020. Vì vậy, nếu người dân không chấp hành nghiêm túc thì cơ quan nào có thẩm quyền xử phạt và xử phạt vi phạm hành chính. các hình thức xử phạt? Bài viết dưới đây, Công ty Luật Nguyễn Lê Trân và Cộng sự sẽ giải đáp vấn đề trên để Quý khách hàng giải đáp thắc mắc.

Việc yêu cầu đeo khẩu trang khi đến nơi công cộng của Ban chỉ đạo phòng chống SXHD19 là yêu cầu bắt buộc của cơ quan chức năng. Theo quy định tại Mục 8 của Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm 2007, nghiêm cấm hành vi không tuân thủ các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Hành vi không thực hiện các biện pháp bảo vệ cá nhân với người tham gia chống dịch, người có nguy cơ mắc bệnh theo chỉ đạo của cơ quan y tế theo quy định tại Nghị định 176/2013 / NĐ-CP đều bị xử phạt. Cụ thể, tại điểm A, khoản 1, Điều 11 có quy định như sau:

Điều 11 – Vi phạm các quy định về áp dụng các biện pháp chống dịch

  1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
  2. a) Không thực hiện các biện pháp bảo vệ cá nhân đối với những người tham gia chống dịch và những người có nguy cơ mắc bệnh theo chỉ đạo của cơ quan y tế; “

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không đeo khẩu trang thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, Thanh tra Bộ Y tế theo quy định tại Điều 89 và Điều 90 Nghị định 176/2013 / NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm và vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế. như sau:

Điều 89 – Xác định chức năng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

  1. Thủ trưởng ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính đối với người cư trú; Đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế dự phòng, phòng, chống HIV / AIDS, bảo hiểm y tế, khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế;

b) Tịch thu tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính với mức tiền không vượt quá mức tiền phạt quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm A, C, J khoản 1 Điều 28 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

  1. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp quận có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính đối với người cư trú. Đến 25.000.000 đồng đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế dự phòng và phòng, chống HIV / AIDS; Vi phạm hành chính về bảo hiểm y tế đến 37,5 triệu đồng; Đến 50.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn quy định hoặc đình chỉ hoạt động trong thời hạn xác định;

d) Tịch thu tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính với mức tiền không vượt quá mức tiền phạt quy định tại điểm b khoản này;

d) Thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm A, C, J, E, H, I Khoản 1 Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính và các khoản quy định tại Điều 3 Nghị định này.

  1. Đối với những người đứng đầu ủy ban nhân dân ở các bang:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính đối với người cư trú; Đến 50.000.000 đồng do vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế dự phòng và phòng, chống HIV / AIDS; Vi phạm hành chính về bảo hiểm y tế đến 75.000.000 đồng; Đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn quy định hoặc đình chỉ hoạt động trong thời hạn xác định;

d) Tịch thu tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính.

d) Áp dụng các biện pháp khắc phục quy định tại Điều 3 Nghị định này.

So với các quy định liên quan đến việc xử phạt theo thẩm quyền trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố và các sở, ban, ngành Có quyền phạt cảnh cáo và phạt tiền từ 100.000 – 300.000 đồng.

Điều 90: Thừa nhận năng lực của thanh tra y tế

  1. Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành trong khi thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền đến 300.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính đối với người cư trú; Đến 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế dự phòng, phòng, chống HIV / AIDS, bảo hiểm y tế, khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế;

c) Tịch thu tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm A, C, J D khoản 1 Điều 28 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

2- Chánh Thanh tra Bộ Y tế, Chi cục trưởng Chi cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình Bộ Y tế có thẩm quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính đối với người cư trú. Đến 25.000.000 đồng đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế dự phòng và phòng, chống HIV / AIDS; Vi phạm hành chính về bảo hiểm y tế đến 37,5 triệu đồng; Đến 50.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn quy định hoặc đình chỉ hoạt động trong thời hạn xác định;

d) Tịch thu tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính với mức tiền không vượt quá mức tiền phạt quy định tại điểm b khoản này;

D- Áp dụng các biện pháp khắc phục quy định tại Điều 3 của Nghị định này.

  1. Chánh Thanh tra Bộ kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, Cục trưởng Cục Dược liệu, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Vụ trưởng Vụ Môi trường y tế, Cục trưởng Cục Tổ chức Y tế có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính đối với người cư trú; Đến 50.000.000 đồng do vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế dự phòng và phòng, chống HIV / AIDS; Vi phạm hành chính về bảo hiểm y tế đến 75.000.000 đồng; Đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn quy định hoặc đình chỉ hoạt động trong thời hạn xác định;

d) Tịch thu tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính.

D- Áp dụng các biện pháp khắc phục quy định tại Điều 3 của Nghị định này.

  1. Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp Bộ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền đến 21.000.000 đồng đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực dân cư; Đến 35.000.000 đồng do vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế dự phòng và phòng, chống HIV / AIDS; Xử phạt vi phạm hành chính về bảo hiểm y tế lên đến 52.500.000 đồng; Đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn quy định hoặc đình chỉ hoạt động trong thời hạn xác định;

d) Tịch thu tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính với mức tiền không vượt quá mức tiền phạt quy định tại điểm b khoản này;

D- Áp dụng các biện pháp khắc phục quy định tại Điều 3 của Nghị định này.

  1. Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành có quyền xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Ngoài ra, những người mắc bệnh nếu không đeo và rải khẩu trang có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ác đối với họ. Lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong ngườiĐiều 240 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là nội dung tư vấn của công ty luật Nguyễn Lê Trân & Cộng sự. Mọi thắc mắc cần được tư vấn, vui lòng liên hệ qua điện thoại, e-mail hoặc trực tiếp tại công ty để được hỗ trợ.

Trân trọng!

Bài viết

Kam Tian

NGUYỄN LÊ TRẦN LUẬT CÔNG TY LUẬT TNHH VÀ LUẬT DOANH NGHIỆP

Địa chỉ: 14-16 Tôn Đản, P.13, Q.4, TP.HCM

Hotline: 0938343384 (Ls Bình) – 0938132982 (Ls Quyên) – 0977761893 (Ls Huy)

E-mail:

Các luật sư cao cấp tại ILAW:

http://i-law.vn/luat-su/nguyen-duy-binh-301?utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo&zarsrc=30

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.