Điều kiện cần và đủ để có hiện tượng tâm lý người là

Phân loại các hiện tượng ma tuý

hiện tượng tâm lý.

Khi chúng ta nhìn, chúng ta nhận thấy một hiện tượng, biểu tượng này xuất hiện trong đầu chúng ta. Nó là một biểu tượng tâm lý.

Khi chúng ta vui hay buồn, trạng thái vui hay buồn đó cũng là do tâm lý.

Khi chúng ta suy nghĩ và đưa ra một nhận định, đánh giá nào đó thì những phán đoán của chúng ta cũng là một hiện tượng tâm lý.

Có những sự việc không xảy ra ngay lập tức như một quá trình suy nghĩ hay như một trạng thái vui buồn mà chỉ là sự khái quát từ các hiện tượng tâm lý khác.

Ví dụ, khi chúng ta nói tôi yêu công việc, chúng ta đang nói đến một đặc điểm của con người. Với một người như vậy, họ coi trọng và coi trọng sản phẩm lao động của mình.

Trong tiếng Việt, ngoài thuật ngữ tâm lý còn có thuật ngữ tâm hồn. Đôi khi người ta tách từ “trái tim” với từ “tâm hồn”. Trong Từ điển tiếng Việt (1988), tâm hồn được định nghĩa là những tư tưởng, tình cảm tạo nên đời sống nội tâm và thế giới nội tâm của mỗi người.

Những hiện tượng tâm lý, toàn bộ tâm hồn con người đều phát sinh từ bên ngoài, là sự phản ánh thế giới khách quan. Thế giới vật chất được truyền đến não bộ, dưới dạng các ký hiệu, hình ảnh đó không chỉ dừng lại ở mức độ đặc và không đổi. Nhờ các giác quan mà chúng ta có những biểu tượng về các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan. Giữa vô số hình ảnh và biểu tượng của những ngôi nhà thực sự, tâm trí của con người đang dần khái quát hóa và tất cả những biểu tượng đó được thu gọn lại trong một khái niệm: ngôi nhà. Đó là ngôn ngữ đã giúp nâng cao nhận thức của con người về thế giới bên ngoài.

Cũng nhờ có ngôn ngữ mà tư duy của con người đã bước sang một bước ngoặt vĩ đại: từ tư duy bằng bàn tay con người sang tư duy bằng khái niệm. Nhờ tư duy lý thuyết, con người đã có thể nhìn sâu vào những thứ không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Bằng mắt, con người không thể nhìn thấy đường đi của các hạt ánh sáng, nhưng với trí óc thì họ có thể.

Như vậy, có thể nhận thức được các hiện tượng tâm lý – thế giới bên trong của con người, tuy là sự phản ánh ngoại giới nhưng nó là hiện tượng tinh thần. Thế giới tâm linh này cũng có những cơ chế và quy tắc riêng trong công việc. Bản thân nó có một cấu trúc phức tạp. Để có thể nghiên cứu sâu hơn các hiện tượng tâm lý, người ta chia chúng thành các lớp hiện tượng khác nhau.

Phân loại các hiện tượng tâm lý.

Có nhiều cách phân loại các hiện tượng tâm lý khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày một số cách phân loại phổ biến.

ý thức và vô thức:

ý thức:

này Ý tưởng: Có nhiều lĩnh vực quan tâm đến ý thức: triết học, giáo dục, tâm thần học, tâm lý học

Trong tâm thần học, ý thức chủ yếu giới hạn trong định hướng của con người: định hướng thời gian, định hướng không gian và định hướng chủ quan. Khái niệm ý thức được hiểu rộng hơn trong tâm lý học hơn là tâm thần học. Như đã đề cập trước đó, những hình ảnh chúng ta quan sát và những suy nghĩ, phán đoán mà chúng ta có trong quá trình suy nghĩ đều là những hiện tượng tâm lý. Khi những hiện tượng tâm lý này là chủ đề suy nghĩ của chúng ta: tại sao chúng ta lại để ý? Suy nghĩ và quyết định của chúng ta có đúng không? Khi đó, các hiện tượng tâm lý được nâng lên một tầm cao mới: trình độ ý thức. Nói cách khác, nhận thức là khả năng lĩnh hội tri thức. Nói cách khác, nếu các hiện tượng tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan, thì sự phản ánh này lại được phản ánh vào chúng ta – tức là ý thức.

Ở động vật còn có phản xạ tâm lý. Nhưng sự đảo chiều này chỉ dừng lại ở đó mà không có sự đảo chiều lần nữa. Động vật cũng có khả năng nhận thức nhưng không biết rằng chúng nhận thức được. Họ không có nhận thức.

Trong ý thức của con người có một bộ phận quan trọng: ý thức về bản thân. Tự nhận thức là khả năng hiểu bản thân, hiểu mong muốn và khuynh hướng của chính mình. Tự nhận thức được coi là cơ quan chỉ huy cao nhất của mọi ý thức con người.

kết cấu Cây tre: Theo quan niệm chung, ý thức gồm 3 cấp độ chính: nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính và hoạt động.

Tri giác bao gồm hai quá trình chính có quan hệ mật thiết với nhau: cảm giác và tri giác. Các biểu tượng tri giác giúp chúng ta nhận biết sự hiện diện của thế giới bên ngoài, tạo ranh giới giữa tỉnh và ngủ, và giữa tỉnh và say.

Nhận thức lý tính cung cấp cho chúng ta những kiến ​​thức chung và những mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng.

Trong hệ thống phân cấp hoạt động, các hành động có ý thức đóng vai trò như các đơn vị cơ bản. Hành động có ý thức là quá trình con người sử dụng kiến ​​thức và kinh nghiệm của mình để tác động vào thế giới thực nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân và xã hội.

không biết:

Vô thức là những hiện tượng tâm lý vô thức. Nó bao gồm:

Các hành động hoặc cảm giác xảy ra nhưng không xác định được nguyên nhân.

Các thành phần tự động hóa trong kỹ năng và kỹ thuật.

Tình trạng bất tỉnh do nguyên nhân tự nhiên (ngủ), bệnh lý (chấn thương sọ não, nhiệt độ cao) hoặc nhân tạo (thuốc mê).

trực giác.

Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào tiềm thức, nhưng vẫn còn rất nhiều điều không chắc chắn trong lĩnh vực này.

Tâm lý bao gồm các quá trình, trạng thái và đặc điểm:

Đây là cách phân chia dựa trên thời gian tồn tại và vị trí tương đối của chúng trong nhân vật.

Các rất Chương trình tâm lý: Chúng là những hiện tượng tâm lý xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn, có khởi đầu, diễn biến và kết thúc rõ ràng. Mỗi quy trình có sản phẩm riêng của nó. Chúng có thể là biểu tượng của nhận thức, khái niệm, phán đoán của suy nghĩ và rung động của cảm giác.

Các Trạng thái của tâm trí: Chúng là những hiện tượng tâm lý xảy ra trong một thời gian dài, sự khởi đầu và kết thúc không rõ ràng và luôn đi kèm với vai trò là nền tảng cho các quá trình tâm lý. Ví dụ: sự chú ý và tâm trạng

Các Đặc điểm tâm lý: Đây là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, hình thành từ từ nhưng cũng khó mất đi, tạo nên những đặc điểm riêng của nhân cách. Đặc điểm tâm lý là sự tổng hợp kết hợp một số quá trình tâm lý và một trạng thái tâm lý. Các đặc điểm tính cách có thể được coi là riêng biệt, ví dụ, sự cẩn trọng, nhưng chúng cũng có thể được kết hợp để tạo thành nhóm. Ví dụ như chí hướng, tính cách, khả năng, khí chất.

Tâm lý học có ba khía cạnh:

Nhận Thức tỉnh: Đó là những quá trình tâm lý giúp con người nhận thức được các sự vật, hiện tượng và mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng đó. Tri giác bao gồm hai nhóm chính: tri giác (cảm giác và tri giác) và tri giác lý tính (chủ yếu là tư duy).

Đời sống tình cảm: Nếu các quá trình nhận thức mang lại cho con người sự hiểu biết về thế giới khách quan thì đời sống tình cảm thể hiện mối quan hệ của chủ thể với sự vật hiện tượng. Tuy nhiên, nó không áp dụng cho tất cả các sự vật hiện tượng mà chỉ áp dụng cho các sự vật hiện tượng liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu của chủ thể. Ông gọi nó là sự sống hay hình cầu bởi vì nó là một tổng thể (tương đối) và vì trong thành phần của nó có nhiều yếu tố khác nhau, từ màu sắc tình cảm của cảm giác đến cảm xúc. Ngay cả trong trường này, việc phân tách đâu là tiến trình, trạng thái và thuộc tính cũng chỉ mang tính chất tương đối.

tinh thần: Đó là mặt năng động của ý thức, được biểu hiện ở khả năng thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi sự nỗ lực vượt khó. Ý chí là tâm lý điều chỉnh hành vi tích cực nhất ở con người. Nhờ có ý chí, con người mới có thể chuyển từ tri giác, rung động sang hoạt động thực tiễn. Công việc sẽ luôn đồng hành, vì vậy lĩnh vực này còn được gọi là công việc tình nguyện.

Thế giới hiện tượng tâm lý của con người là một chỉnh thể, thống nhất và không thể chia cắt. Việc phân chia thành các danh mục, loại và lĩnh vực chủ yếu nhằm mục đích nghiên cứu sâu hơn về thế giới trừu tượng này. Mỗi cách phân loại đều có những ưu nhược điểm nhất định. Thậm chí mỗi phân loại được coi là tương đối vì không thể xác định chính xác ranh giới của hiện tượng, ví dụ giữa ý thức và vô thức, hoặc không thể tách biệt một cách máy móc trạng thái khỏi trạng thái cảm xúc và quá trình cảm xúc là gì.

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.