Chu nghia yeu nuoc trong cac tac pham van hoc trung dai

Chủ nghĩa yêu nước trong các tác phẩm văn học trung đại

Bạn đang xem tài liệu “Bài giảng Ngữ văn lớp 10 – Chủ đề: Chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại (Các tác phẩm đã học)”, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • Chu nghia yeu nuoc trong cac tac pham van hoc trung dai

    bai_giang_ngu_van_lop_10_chu_de_chu_nghia_yeu_nuoc_trong_van.pptx

Nội dung text: Bài giảng Ngữ văn lớp 10 – Chủ đề: Chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại (Các tác phẩm đã học)

  1. CHỦ ĐỀ: CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI (CÁC TÁC PHẨM ĐÃ HỌC)
  2. NỘI DUNG BÀI HỌC KHÁI QUÁT CHUNG CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC BIỂU HIỆN
  3. Khái niệm Ý thức độc lập, tự cường, tự tôn dân tộc Căm thù giặc, ý chí A. CHỦ NGHĨA Vai trò: Cảm hứng quyết chiến thắng YÊU NƯỚC lớn, xuyên suốt. Tự hào trước chiến Khái quát công tầm thời đại Tự hào trước truyền thống LS Biết ơn, ngợi ca những anh hùng hi sinh vì nước Biểu hiện Tình yêu thiên nhiên, đất nước thiết tha, sâu nặng Tỏ lòng Cảnh ngày hè Cụ thể Phú sông Bạch Đằng Đại cáo bình Ngô
  4. B. BIỂU HIỆN CỤ THỂ I. TỎ LÒNG (PHẠM NGŨ LÃO) Thời đại nhà Trần 1. Khái quát chung Thi dĩ ngôn chí Hiên ngang Không gian kì vĩ Oai phong lẫm liệt 2. Nội dung Thời gian kì vĩ Hào khí ngút trời Con người tầm vóc vũ trụ Nhân cách, hoài bão lớn lao: nợ công danh – thẹn Hừng hực khí thế, âm hưởng Hào khí Đông A trong văn học Lý – Trần.
  5. B. BIỂU HIỆN CỤ THỂ II. CẢNH NGÀY HÈ (NGUYỄN TRÃI) 1. Khái quát chung 254 bài Tập thơ Nôm sớm nhất – Quốc âm thi tập Bố cục: 4 phần Lý tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân Nội dung Tình yêu thiên nhiên, con người, cuộc sống Nghệ thuật: Sáng tạo thể thơ thuần dân tộc (Thất ngôn xen lục ngôn) Bài 43, mục Bảo kính cảnh giới, phần Vô đề – Cảnh ngày hè: Tả cảnh ngụ tình
  6. B. BIỂU HIỆN CỤ THỂ II. CẢNH NGÀY HÈ (NGUYỄN TRÃI) Tình yêu thiên nhiên: Bức tranh TN ngày hè sinh động, giàu sức sống 2. Nội dung Lòng yêu đời, yêu cuộc sống: Cảnh sinh hoạt của nhân dân Khát vọng về cuộc sống thái bình, hạnh phúc cho nhân dân Thể hiện những phương diện của chủ nghĩa yêu nước: Tình yêu thiên nhiên, cuộc sống và lòng yêu nước thương dân.
  7. III. PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (TRƯƠNG HÁN SIÊU) – Tác giả: Tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, môn khách của THĐ -> tự hào về nhân tài, trí thức đất Việt. – Bài phú nổi tiếng ra đời sau khoảng 50 năm chiến thắng Nguyên 1. Khái quát chung Mông -> tự hào về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc. – Sông Bạch Đằng, nơi ghi dấu bao chiến công oanh liệt trong chiến tranh vệ quốc, 1 địa chỉ đỏ -> tự hào về địa linh đất Việt.
  8. III. PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (TRƯƠNG HÁN SIÊU) 2. Nội dung – Nhân vật Khách, cái tôi tác giả: tính tình phóng khoáng, ham du ngoạn, luôn bồi bổ tri thức, mang hùng tâm tráng chí sôi nổi, tha thiết. a. Hình tượng – Những địa danh mang tính ước lệ (Cửu Giang, Ngũ Hồ, ), thực chất nhân vật Khách. là cảnh đẹp của non sông đất nước VN -> TY thiên nhiên tha thiết. – Cảnh sắc Bạch Đằng giang vẫn hùng vĩ, bao la; gợi hồi tưởng về chiến tích oai hùng của ông cha thuở trước. – Tuy nhiên, dấu ấn của thời gian khiến quá khứ hào hùng dần chìm vào dĩ vãng -> khách trầm ngâm, suy tư và nuối tiếc. Tự hào nhưng lo lắng trước truyền thống lịch sử hào hùng.
  9. III. PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (TRƯƠNG HÁN SIÊU) – Logic cảm xúc: Khách trầm ngâm -> các bô lão xuất hiện hỏi nguyên cớ. – Tập thể các bô lão chính là những chứng nhân, tiếng nói hùng hồn của lịch sử. + Hào hứng giới thiệu -> tự hào về những b. Trận thủy chiến công. chiến Bạch Đằng. + Trận chiến ác liệt, kinh thiên động địa -> khơi gợi ý chí lập chiến công. + Ví như những trận thủy chiến nổi tiếng -> – Hồi thuật về tự hào, tự tôn dân tộc. trận chiến: + Lý giải nguyên nhân làm nên chiến thắng: do địa linh, thiên thời; đặc biệt là nhân kiệt (so sánh với Lã Vọng, Hàn Tín) -> tự hào về văn hiến, văn vật. + Sức mạnh chính nghĩa và ý thức giáo dục truyền thống lịch sử.
  10. III. PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (TRƯƠNG HÁN SIÊU) – Các bô lão: Khẳng định quy luật để thể hiện niềm tự hào trước truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc. c. Lời bình luận. – Khách: Tôn vinh giá trị con người và đạo lý nhân nghĩa của dân tộc. Bài phú thể hiện mạnh mẽ lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân văn cao đẹp.
  11. IV. ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (NGUYỄN TRÃI) – Nguyễn Trãi – người anh hùng suốt đời yêu nước, thương dân. 1. Khái quát chung – Thừa lệnh Lê Lợi, NT viết bài cáo vào đầu năm 1428, mang ý nghĩa trọng đại như 1 bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên cáo rộng rãi chiến thắng của dân tộc. + Nêu luận đề chính nghĩa. + Tố cáo tội ác kẻ thù. + Lược thuật quá trình Cảm hứng yêu – Kết cấu: chiến đấu và chiến thắng. nước, dân tộc + Tuyên bố chiến quả, nêu cao chính nghĩa.
  12. IV. ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (NGUYỄN TRÃI) + Tư tưởng Lấy dân làm gốc. 2. Nội dung – Tư tưởng Tư tưởng mới nhân nghĩa. mẻ, tiến bộ. + Đứng trên lập a. Nêu trường nhân dân. luận đề chính Tính chất hiển Văn hiến nghĩa. nhiên, tất yếu: từ (văn hóa) trước, vốn, đã lâu, Biên giới, Tự – Chân lý khách cũng khác. lãnh thổ quan về độc lập, cường, Phong tục chủ quyền dân tự tôn tập quán tộc. So dân tộc. sánh. Tổ chức chính quyền Cơ sở pháp lý vững chắc: Nhân nghĩa và độc Anh hùng lập, chủ quyền. hào kiệt
  13. IV. ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (NGUYỄN TRÃI) – Vạch trần luận điệu Ra sức vơ vét, xuyên tạc, âm mưu xâm bóc lột. lược: nhân, thừa cơ. b. Bản + Phản tiến cáo trạng hóa. Xâm lược về văn tội ác kẻ – Lên án, tố cáo đanh hóa, nòi giống. thù. thép chủ trương, chính Hành động diệt sách cai trị. chủng. + Phản nhân đạo. – Kết luận tội ác: dùng Dối trời lừa dân: cái vô hạn biểu đạt cái vô muôn nghìn kế. cùng. Tố cáo đanh thép tội ác kẻ thù = Biểu hiện hùng hồn lòng yêu nước, thương dân.
  14. IV. ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (NGUYỄN TRÃI) Con người đời Tính nhân dân, – Hình tượng người anh thường. dân tộc của cuộc hùng dân tộc. Con người xuất kháng chiến. chúng. c. Lược thuật Buổi đầu muôn vàn khó quá trình khăn (phòng ngự). chiến đấu và chiến thắng. Tinh thần đoàn kết + chiến thuật – Lược thuật khởi hợp lý + sức mạnh chính nghĩa – nghĩa Lam Sơn. > cục diện thay đổi (phản công). Chiến thắng liên tiếp >< thất bại thảm hại (tấn công). – Khẳng định: đại nghĩa, chí nhân, chính nghĩa là những vũ khí, mưu kế kỳ diệu – chưa thấy xưa nay.
  15. IV. ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (NGUYỄN TRÃI) – Trịnh trọng, trang nghiêm tuyên bố nền hòa bình, độc lập dân tộc. d. Tuyên bố chiến quả, Lời hiệu triệu nêu cao – Lạc quan, tin tưởng vào tương lai quyết tâm bảo vệ, chính nghĩa. tươi sáng của vận mệnh dân tộc. giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc. – Khẳng định sự kết hợp hài hòa sức mạnh truyền thống và thời đại, quy luật tất yếu của sự nghiệp chính nghĩa. Tư tưởng nhân nghĩa + lập trường chính nghĩa + tinh thần đoàn kết + nghệ thuật chính luận = áng thiên cổ hùng văn, bản tổng kết đầy tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc.
  16. C. KẾT LUẬN CHUNG. Ý thức độc lập, tự cường, tự tôn dân tộc Căm thù giặc, ý chí quyết chiến thắng Chủ Tự hào trước chiến công, Các tác nghĩa truyền thống lịch sử phẩm yêu nước Biết ơn, ngợi ca, tôn vinh những anh hùng hào kiệt Tình yêu thiên nhiên, đất nước thiết tha, sâu nặng * Dặn dò: Chuẩn bị Chủ đề: Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại.

Chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại

Văn học là dòng chảy không ngừng của thời gian, các nhà văn nhà thơ là thư kí trung thành của thời đại. Ta bắt gặp được những bản tuyên ngôn độc lập với giọng đọc hào sảng của Nước Việt Nam qua “Nam quốc sơn hà”hay một bài hịch vang núi sông  ngỡ còn đâu đây trong “Hịch tướng sĩ” của Trần quốc Tuấn…và đó chính là những biểu hiện đẹp về trào lưu chủ nghĩa yêu nước tô đậm trong nền văn học trung đại.

Chu nghia yeu nuoc trong cac tac pham van hoc trung dai

Dân tộc Việt Nam trải qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, những chiến tích oanh liệt của các vua hùng, tướng sĩ được tạc trên sổ vàng của lịch sử. Văn học phản ánh chân thực và rõ nét qua các tác phẩm văn chương.

Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, nước ta tồn tại dưới các triều đại phong kiến từ hưng thịnh đến suy vong. Văn học trung đại với nhiều nguồn cảm hứng khác nhau, trong đó yêu nước và nhân đạo là hai trong bốn nguồn cảm hứng chi phố ngòi bút của nhà thơ, nhà văn. Nhưng chủ nghĩa yêu nước tồn tại với những biểu hiện rõ nét, dưới nhiều cung bậc, màu vẻ khác nhau.

Yêu nước là niềm tự hào, tự tôn dân tộc, là lòng căm thù giặc sâu sắc với ý chí quyết tâm dẹp loạn, giành độc lập tự do; là lòng trung quân ái quốc; tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước sâu sắc; tố cáo tội ác của giặc; khát vọng hòa bình . Ngoài ra còn thể hiện ở nhiều cung bậc tâm trạng: buồn vui, sung sướng, hả hê, hay tủi nhục, hân hoan…

Có thể nói, trong những thế kỉ đầu, văn học viết về những chiến công anh dũng, lấp lánh ánh hào quang của tinh thần yêu nước.

Mở đầu với “Bản tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của nước Đại việt với lòng tự hào, tự tôn dân tộc của Lý Thường Kiệt:

“Sông núi nước Nam vua Nam ởVằng vặc sách trời chia xứ sởGiặc giữ cớ sao phạm đến đây

Chúng bay nhất định phải tan vỡ”

Với giọng đọc hùng hồn, vang dội, bài thơ là lời khẳng định chủ quyền dân tộc, không tên giặc ngoại xâm nào có thể “xâm phạm” đến đây và lời tuyên ngôn rõ ràng, nhất quyết về tội ác của giặc sẽ phải chịu:

“Giặc giữ cớ sao phạm đến đây
Chúng bay nhất định phải tan vỡ”

Yêu nước còn là tấm lòng trung quân ái quốc, luôn xưng đế:

“Như nước Đại việt ta từ trướcVốn xưng nền văn hiến đã lâuNúi sông bờ cõi đã chiaPhong tục Bắc Nam cũng khácTừ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

(Bình ngô đại cáo – Nguyễn trãi)

Nước đại việt với những phong tục, tập quán riêng, trải qua bao đời nay nó đã trở thành “nền văn hiến” không thể nào xóa bỏ.

Nhưng trong các triều đại phong kiens, nước ta luôn phải chống giặc ngoại xâm thì không thể nào không có một trái tim hừng hực cháy bỏng về lòng căm thù giặc và một ý chí quyết tâm sắt đá đánh đuổi giặc như trong “ Hịch tướng sĩ” vang núi sông của Trần quốc Tuấn.

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức một nỗi chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng thấy cam lòng…”.

Đó là tâm trạng căm phẫn tột cùng và một hào khí “sát thát” Đông A của thời Trần. Ông căm ghét lũ giặc đi nghênh ngang ngoài đường trên đất Nam, và coi đó như lũ cú, lũ hổ đói… và có lẽ bởi thế, bằng các động từ mạnh: xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu… đã lột tả hết được tâm trạng lên đến đỉnh cao của Trần quốc Tuấn. Lời thủ thỉ của tướng sĩ khiến bao an hem trong đội phải dấy lên những cảm xúc để họ một ngày nào đó sẽ “ nhà nhà giỏi như Nguyễn Huệ, …bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửu sông…”tất cả đều xuất phát từ lòng yêu nước sâu sắc.

Đến với “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, một áng “ thiên cổ hùng văn” như một bản ngôn dân quyền của nước đại Việt ta. Một lời tố cáo tội ác của giặc như khiến lòng độc giả cũng phải hòa mình vào thời ấy.

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

Lũ giặc gây bao tội ác như thế, làm sao ta không căm tức, không muốn diết giặc:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dânQuân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Tất cả vì dân, “ vì nước quên thân, vì dân diệt bạo”.

Ta còn bắt gặp một ông vua chúa Trịnh ăn chơi xa đọa, không chăm lo cho cuộc sống của người dân, bỏ bê việc triều chính. Không chỉ có vậy, mà đến các tầng lớp quan lại cũng là lũ “đầu trâu mặt ngựa” nửa đêm đi lùng tìm những cây quí của nhà dân rồi đổ tội oan cho dân, đẩy họ vào bước đường cùng không lối thoát.

Bên cạnh đó, tình yêu đất nước còn thể hiện ở khát vọng hòa bình của mọi người dân.

“Chương Dương cướp giáo giặcHàm tử bắt quân thùThái bình nên gắng sức

Non nước ấy ngàn thu”

(Phò giá về kinh – Trần Quang Khải)

Đó là những chiến công hiển hách oanh liệt để làm nên chiến thắng thanh bình như ngày hôm nay. Khát vọng hòa bình của người dân được đẩy thêm một nấc. Một lời tâm sự của Nguyễn Trãi mang bao khát vọng:

“Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch thù”

Từ đó thúc đẩy ý chí của mọi người để vươn lên tới hòa bình, hạnh phúc, ấm no. Cảm xúc trước cuộc sống thanh bình của người dân:

“Giặc tan muôn thủa thăng bình
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao”

Vì non sông gấm vóc, nước Việt Nam sẵn sàng hi sinh tất cả giành lại đất nước. Ngoài ra, chủ nghĩa yêu nước còn là tình yêu thiên nhiên sâu đậm. Đọc thơ Nguyễn Trãi, thiên nhiên như ùa về trong ta với bao cảnh đẹp:

“Một mình nhàn nhã khép phòng vănKhách tục không ai bén mảng gầnTrong tiếng quốc kêu xuân đã muộn

Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan”

Thì ra Nguyễn Trãi khép phòng văn chứ ông không khép lòng mình, mà ông luôn mở rộng lòng mình đến với thiên nhiên tươi đẹp. Sắc tím của hoa xoan đã trở thành ấn tượng đối với thi nhân. Ông yêu thiên nhiên bởi nó không có cái nham hiểm của lòng người. Màn mưa bụi khép lại khiến lòng ta xao xuyến, nhớ mãi. Hay đến với thứ cỏ xanh non sau cơn mưa còn vương như những làn khói mờ mờ, hư thực:

“Cỏ xanh như khói bến xuân tươiLại có mưa xuân nước vỗ trờiQuạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách

Con đò gối bãi suốt ngày ngơi”

(Bến đò xuân đầu trại – Nguyễn Trãi)

Không gian đưa đến với màu xanh của cỏ, màu trắng của khói sớm, và hơn thế là sự tĩnh lặng của một miền quê xa vắng ngỡ còn đâu đây. Ta bắt gặp tiết trời thu xanh ngắt cugnf ánh trăng mờ ảo huyền diệu trong “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ thơ gió hắt hiu”

Thu của làng cảnh Việt Nam thật mộc mạc, bình dị mà thân thuộc, gần gũi. Bởi thế tôi càng yêu sao quê hương, đất nước mình hơn.

Con người Việt Nam đẹp như thế, họ có tình yêu thương sâu sắc khiến ta thêm tự hào và trân trọng biết bao. Bởi vậy, chủ nghĩa yêu nước như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt chặng đường dài rộng của nền văn học nước nhà. Các nghệ sĩ nối tiếp nhau viết về chủ nghĩa đó bằng cả niềm tin và tình yêu vô bờ đối với con người và tình quê chan chứa. Chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại mãi mãi tỏa sáng trong tâm hồn mỗi người bởi lẽ “với quá khứ, ta xây dựng được tương lai”. Càng đọc ta càng thấm thía trong từng trang viết về một thời đại vang danh núi sông bởi “ Mỗi con người là một bài thơ đẹp”.

Bài viết được chia sẻ bởi kinhnghiem.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.